GÓP Ý VỚI ''TRUNG TÂM GIA SƯ TRÍ TUỆ VIỆT''

I- Lời dẫn nhập
Trước khi mạo muội góp ý về cách đọc ''tên gọi'' từng chữ CÁI của tiếng Việt, tôi kính mời Việt Bào vui lòng xem kỹ bài nầy: Bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn đầy đủ - Trung Tâm Gia Sư Trí Tuệ Việt …
Trong tài liệu của ''Trung Tâm Gia Sư Trí Tuệ Việt'', ở phần ''Bảng chữ cái tiếng anh viết hoa và phiên âm quốc tế'', có nhiều lỗi, ngược với cách phát âm trong Video mà Trung Tâm ấy có gắn như sau: ABC Song | Super Simple Songs – YouTube
Vậy, tôi xin chân thành nêu thiển ý:
II- Những lỗi trong bài viết của Trung Tâm Gia Sư Trí Tuệ Việt
A- Sai chính tả quan trọng
Chữ ''anh'' trong tựa đề ''Bảng chữ cái tiếng anh viết hoa và phiên âm quốc tế'' phải ''được'' viết hoa: Anh. Trung Tâm Gia Sư Trí Tuệ Việt ''quên'' ghi mẫu tự b nhỏ bên cạnh B lớn trong khi B hay b đều là mẫu tự! Sau mẫu tự B,b, không có hai chấm (:) và phải đặt ký hiệu phiên âm (tên gọi /bi:/) sát bên nó như thế này: B,b /bi:/
B- Sai ký hiệu phiên âm quốc tế và cách đọc như âm Việt
Tôi xin nêu cách ghi sai (màu đỏ) của Trung Tâm Gia Sư Trí Tuệ Việt và xin chỉnh lại cho đúng.
1- Sai: A : /ei/ ( ây) ĐúngA /eɪ/ (ây)
2- Sai: B : /bi:/ (bi)
3- Sai: C : /si:/ ( si ) Đúng: C /si:/ (xi)
4- Sai: D : /Di:/ ( đi ) Đúng: D /di:/ (đi) Chữ ''D'' không được dùng làm ký hiệu thay âm /d/!!!
5- Sai: E : /i:/ (i)
6- Sai: F : /ef/ ( ép ) Đúng: F /ef/ (éph) hay có thể đọc như cách của Pháp: (effe, èfe): ''e'' (cuối) câm.
7- Sai: G : /dji:/ ( dzi ) Đúng: G /iː/ hay có thể đọc gần như mẫu tự j của tiếng Pháp: (j; ji)
8- Sai: H : /efts/ ( ét s ) s : xì -> khép 2 hàng răng lại (!!!) Đúng: H /eɪtʃ/ …...
9- Sai: I : /ai/ ( ai ) Đúng: I /aɪ/ (ai)
10- Sai: J : /dzei/ ( dzêi ) Đúng: J /dʒeɪ/
11- Sai: K : /kei/ ( kêy ) Đúng: K /keɪ/ (cây)
12- Sai: L : /el/ ( eo ) Đúng: L /el/ (tạm đọc: eo-l)
13- Sai: M : /em/ ( em ) Đúng: M /em/
14- Sai: N : /en/ ( en ) Đúng: N /en/
15- Sai: O : /ou/ ( âu ) Đúng: O /ou/ Cách cũ /ou/ Cách mới của Anh: /əʊ/ Cách của Mỹ: /oʊ/
16- Sai: P : /pi/ ( pi ) Đúng: P /pi:/
17- Sai Q : /kju:/ ( kiu ) ĐúngQ /kju:/
18- Sai: R : /a:/ ( a ) Đúng: R /a:/ Cách mới của Anh: R /a:(r)/
19- Sai: S : /et/ ( ét ) Đúng: S /es/
20- Sai: T : /ti/ ( ti ) Đúng: T /ti:/
21- Sai: U : /ju/ ( diu ) Đúng: U /ju:/ Không có âm như tiếng Việt (diu), bằng chứng: Thank you /θæŋkju:/, chứ không phải /θæŋdju:/!!!
22- Sai: V : /vi/ ( vi ) Đúng: V /vi:/
23- Sai: W : /d^plju/ ( đấp liu ) Đúng: W /dʌblju:/
24- Sai X : /eks/ ( ék s ) Đúng: X /eks/
25- Sai: Y : /wai:/ ( quai ) Đúng: Y /waɪ/
26- Sai: Z : /zed/ ( djét ) Đúng: Z /zed/
C- Nhận xét về ''Bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn đầy đủ'' (Gia Sư Trí Tuệ Việt)
Trong bảng chữ cái tiếng Việt ''vừa nêu'', có thêm bốn mẫu tự nầy: F, J, W, Z (*) là do quyết định của ''Bộ trưởng Bộ Giáo dục'' ngày 05.3.1984!!! Cũng có tác giả nọ phát biểu như sau: ''Các chữ cái trong bảng chữ cái Latin đã bị lãng phí trong tiếng Việt gồm có chữ F, J, W, Z.'' Từ Điển Tiếng Việt (Viện Ngôn Ngữ Học) cũng chấp nhận ''BẢNG CHỮ CÁI'' như thế!!!
Thật ra, hai mẫu tự J, W không có trong tiếng Latinh! Mẫu tự ''u'' cũng là ''v'' như trong ''iuuenis''. Nhưng, sau nầy, trước thế kỷ XV, mẫu tự J,V là cách ''sáng tạo'' để dễ đọc ''JUVENIS, juvenis'' thay vì ''IVVENIS, juvenis''. Dù vậy, tại Đức, trong sách tiếng Latinh, Sách Thánh Ca và từ điển Latinh, không có mẫu tự J,n. Trên Thánh Giá ở khắp năm châu, có hàng chữ này: INRI hay (I.N.R.I) là cách viết tắt của IESUS NAZARENUS REX IUDAEORUM. (Giêsu người Nadaret (là) Vua của Dothái)
D- Nhận xét về phần ''Những chữ cái đọc và tên gọi chúng'' (GIA SƯ TRÍ TUỆ VIỆT)
1- Theo thiển ý của tôi, GIA SƯ TRÍ TUỆ VIỆT nên viết thế nầy: ''Cách đọc tên gọi từng chữ cái tiếng Việt.'' Trong phần ''Tên gọi'', Gia Sư TTV ghi sai hầu hết cách đọc các mẫu tự!!!
2- Xin nêu lên vài bằng chứng về phần ''sai'' và ''thừa'' như sau:
Trung Tâm GSTTV tự đặt tên cho chữ CÁI B là ''bê, bê bòbờ'' là sai! Mẫu tự B,b có tên gọi là '''' đúng như người Pháp đặt tên cho nó và phát âm nó: B,b /be/ () Hai chữ ''bê bò'' không phải là ''tên gọi'' của B,b! Đó chỉ là cách giúp một số vùng Miền Trung Nam Phần và Miền Nam phân biệt nó với mẫu tự P,p. Viết ''bờ'' là phạm lỗi phiên âm quốc tế (International Phonetic Transcription) vì tiếng Việt cũng dùng mẫu tự Latinh như Pháp, Anh, Đức... Thật ra, vì người Việt hồi xưa chưa quen với ký hiệu phiên âm quốc tế, các Cố Đạo không thể ghi cách phát âm /b/ trong từ (mot, word) ''Ba, ba'' /ba/. Các ngài bèn dạy đánh vần: ''bờ, a'' ---> ba. Như vậy âm /b/ (mà Trung Tâm GSTTV gọi là TÊN ''bờ'' thì sai hoàn toàn!
Ký hiệu /bi:/ là cách phiên âm tên gọi mẫu tự B,b theo người Anh; người Pháp: B,b /be/ (bé); còn người Đức thì: B,b /be:/ và người Việt cũng ''bắt chước người Pháp như thế: B,b /be/ ().
3- Trung Tâm GSTTV tự đặt tên cho chữ CÁI P là ''pê, pê phởpờ'' là cũng sai!!!
a- Xin lấy họ của tôi, là Phan, làm thí dụ về cách gọi tên của từng mẫu tự ''P, h, a, n'': Nếu ai hỏi tôi: ''How'd you spell your name?'': ''Ông gọi tên hay viết (name or write) từng mẫu tự (letter, lettre) của tên ông như thế nào?'' thì tôi trả lời TÊN của từng chữ CÁI là /pi:/, h /eɪtʃ/, /eɪ/, /en/ ---> p, h, a, n.
b- Nếu dạy con nhỏ của mình ''đánh vần'' chữ Phan thì tôi sẽ phát ÂM /f/, /an/ ---> /fan/!!! Cách của người Việt: phờ, an---> phan! (Âm /f/ hơi nhỏ.)
c- Mẫu tự (chữ CÁI) P hay p ''đứng'' RIÊNG (hay một mình) thì tên gọi của nó là ''pê'' như cách đọc trong tiếng Việt. Vậy, P,p tự nó không tạo âm /pə/! Chỉ khi nào nó được kết hợp với chữ CÁI khác để tạo ra từ (mot, word, Wort) nào đó thì nó mới, cùng với chữ CÁI khác, tạo âm rõ ràng, tùy thuộc vào trọng âm (dấu nhấn) trong từ ấy. Ví dụ: porcupine /'ːkjupaɪn/
d- Tôi xin đọc TÊN từng mẫu tự của danh từ ''police'' /pi:/, /əʊ/; /el/, /aɪ/, /si:/, /i:/.
e- Nếu đánh vần từ ấy thì thế này /pə 'li:s/! Hai mẫu tự ''po'' đọc thành /pə/ vì dấu nhấn ở ''vần, âm'' thứ hai. (stress on the second syllable)
f- Vậy mà Trung Tâm GSTTV gọi TÊN mẫu tự CÁI ''P'' (đứng một mình hay nằm trong bảng chữ CÁI) là ''pờ'' thì sai hoàn toàn như đã nêu! Ví dụ khác về từ ''gmail'' mà rất nhiều người Việt mình đọc sai thành ''gờ-mêu!!!'' Phải đọc /'dʒi:meɪl/ vì đó là từ tiếng Anh. Người Pháp Đức... đọc theo âm của tiếng họ.
III- Lời kết
Ở Việt Nam, trẻ em được dạy như thế này: Bảng chữ cái Tiếng Việt – YouTube .Vậy, các cháu phải nói ''tam giác a,bờ,cờ (ABC); được điểm bờ (B), điểm cờ (C); hàng ghế mờ (M); Đài vờ tờ (VT), Đài bờ,bờ,cờ (BBC); xờ, ô,xờ (SOS); em theo Ban bờ, ban dờ (B,D)''; nờ,ô,a,hờ (NaOH) hay sao?
Khi con mình còn học ở Vườn Trẻ, tôi dạy thử, trong hai ngày, các cháu đọc từ ''Nguyễn'' trước tiên. Ban đầu, tôi đọc chữ U, rồi Y. Tôi ghép hai chữ ấy thành UY và phát âm nó cho cháu thuộc lòng. Hôm sau, tôi đọc chữ Ê, rồi N. Tôi ghép hai chữ ấy thành ÊN và phát âm như đã nêu. Sau đó, tôi viết hai chữ NG và đọc tạm là ''ngờ''. Cuối cùng, tôi ghép NG+UYÊN, (ngờ, uyên) đọc thành NGUYÊN. Khi cháu đã biết mặt chữ, tôi thêm vào NGUYÊN các dấu ''sắc, huyền, ngã, nặng, tạm ''xài'' luôn dấu hỏi. Các cháu thấy thích thú, mê cách đánh vần Việt. Trong chừng hai tháng, các cháu đọc được hết các từ trong vài mẫu chuyện dành cho trẻ em.
Tôi dạy con mình năm thứ tiếng, mà không cần ''bắt'' các cháu đọc từng chữ cái, nhưng chỉ cho các cháu cách phiên âm quốc tế, tra từ điển nếu muốn tự luyện thêm cách phát âm. Nếu tra từ nào bắt đầu bằng P chẳng hạn thì chỉ cần liếc xem người ta gọi mẫu tự ấy bằng tên gì, ví dụ P /pi:/.
(*)- Ghi chú:
Mẫu tự F, J, W, Z trong các môn như Lý-Hóa là cần thiết. Nhưng không vì thế mà phải đưa chúng nó vào nằm trong bảng chữ CÁI của tiếng MẸ ĐẺ đã trở thành Hồn Đại Việt! Nhiều học giả uyên bác (ngoại quốc) về ngữ học và ngữ âm học phải thừa nhận nét đặc thù của bảng chữ cái tiếng Việt: không có bốn mẫu tự đã nêu!!!
Đức Quốc, 22.11.2016
Phan văn Phước