Ba cuộc di dân vĩ đại: Cần một cái nhìn tĩnh tâm của các nhà lãnh đạo đất nước

Vũ Cao Đàm

Qua hầu hết các bài báo tôi đọc được trên mạng hiện nay, tôi thấy,
nhiều người cho rằng, đã có hai cuộc di dân lớn trong lịch sử Việt
Nam. Đó là cuộc được gọi là “Di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954”
và cuộc “Di tản của người Việt Nam ra nước ngoài sau 1975”.

Theo tôi, các nhà nghiên cứu đã quên hẳn một cuộc di dân trước đó,
diễn ra trong khoảng hai năm (1950-1951) với tên gọi là cuộc “Hồi cư
từ vùng tự do về vùng tề” (chủ yếu diễn ra ở miền Bắc). Tôi cố tìm
trong các tài liệu lịch sử, nhưng hầu như không có một nghiên cứu nào
đáng được xem là có hệ thống về sự kiện này. Vì vậy, những điều tôi
viết trong bài này chỉ là mong muốn đóng góp một vài ghi nhận về những
gì diễn ra mà tôi được chứng kiến.

Cuộc di dân thứ nhất: Cuộc hồi cư 1950-1951

Sở dĩ người ta gọi là “Hồi cư”, là vì trước đó, những năm 1946-1947 có
phong trào “Tản cư” và “Tiêu thổ kháng chiến”.

“Tản cư” là cuộc di chuyển dân cư từ các thành phố về nông thôn để
tránh sự đàn áp của quân đội Pháp. Phải nói thời kỳ này, quân đội Pháp
đàn áp dân chúng rất dã man. Khi đó tôi còn nhỏ, nhưng chính mắt tôi
đã chứng kiến quân Pháp bắn giết dân, hãm hiếp phụ nữ và cắt tiết
những người vô tội.

Bên cạnh việc “Tản cư”, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh kêu gọi dân
chúng làm công việc gọi là “Tiêu thổ kháng chiến” bằng cách tự mình
đập phá hết các cơ sở hạ tầng để quân Pháp không có nơi đồn trú. Tất
nhiên, tôi đánh giá đây là một chủ trương ngây thơ, lãng phí, vì trình
độ những người lãnh đạo khi đó đã không hiểu rằng, với các phương tiện
cơ động hiện đại, thì quân Pháp đi đến đâu cũng có thể nhanh chóng
thiết lập các cơ sở đồn trú chỉ trong chốc lát, kể cả việc đặt đường
băng để hạ cánh các máy bay quân sự.

Tháng 10/1949, Tàu Cộng toàn thắng trên đất Hoa Lục. Tháng 10/1950,
Việt Nam thắng Pháp trong chiến dịch biên giới 1950, nối liền căn cứ
kháng chiến với một vùng rộng lớn được gọi là “hậu phương” xã hội chủ
nghĩa. Chình phủ kháng chiến Việt Nam phát động rầm rộ “Tháng hữu nghị
Việt-Trung-Xô” và công khai tuyên bố đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Từ đây, cuộc chiến tranh chống Pháp của người Việt Nam công
khai bộc lộ màu sắc ý thức hệ. Đó là cuộc chiến giữa một bên đại diện
cho phe cộng sản quốc tế, còn bên kia đại diện cho phe chống cộng cũng
mang tính toàn thế giới. Đây đáng phải xem là một bi kịch vô cùng lớn
của dân tộc Việt Nam. Bi kịch này có thể tính từ thập niên 1950 kéo
dài cho đến ngày nay. Dân tộc Việt Nam chính thức chia thành hai khối
tàn sát lẫn nhau bảo vệ cho hai ý thức hệ đối địch nhau của thế giới.

Tháng 3/1949, Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée với Pháp, và
trên cơ sở đó đã thành lập Chính phủ Việt Nam Quốc gia, một chính phủ
gồm những người không cộng sản. Chính phủ này đã nhanh chóng thu hút
sự quan tâm của những người không theo cộng sản.

Một sự trớ trêu của lịch sử: Thực dân Pháp từ chỗ là kẻ xâm lược phi
nghĩa, trở nên đồng minh chính nghĩa với Mỹ chống lại chủ nghĩa cộng
sản quốc tế, một mắt xích chống lại con bài đô-mi-nô của chủ nghĩa
cộng sản. Bi kịch của những người Việt Nam quốc gia (chống cộng) là
cuộc chiến đấu chống cộng mang tính quốc tế của họ là cầm súng chiến
đấu bên cạnh những kẻ vốn là kẻ thù xâm lược, mà ngọn cờ chính nghĩa
chống xâm lược vẫn còn trên tay những người cộng sản. Cũng chính vì
vậy, mà sau này, hai nền cộng hòa non trẻ, Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa
vẫn trong bi kịch đó.

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, không thể không thừa nhận một thực
tế, từ đây trong cộng đồng dân tộc Việt xuất hiện sự chia rẽ sâu sắc:
một bên theo cộng sản; một bên không thích theo cộng sản. Làn sóng gọi
là “Hồi cư” về thành phố xuất hiện. Vào đầu thập niên 1950, chỉ tính
Hà Nội, từ chỗ là một thành phố “vườn không nhà trống” đã nhanh chóng
tăng lên khoảng gần 500.000 dân, Hải Phòng gần 200.000, Nam Định trên
100.000. Cộng tất cả các thành phố mà Chính phủ Bảo Đại trấn giữ, trên
đại thể số dân “Hồi cư”, còn được gọi là dân “Vào thành” hoặc “Nhập
tề”, ước khoảng 1 triệu dân. Số dân di cư lần này cũng ngang ngửa với
số dân di cư vào Nam năm 1954.

Tôi chưa nghĩ được cách tính số dân nông thôn, vì rất khó minh định:
Phần lớn nông thôn là vùng tranh chấp, ban ngày họ mang danh là dân
của Chính phủ Bảo Đại, ban đêm lại là dân của Chính phủ Hồ Chí Minh,
là người vẫn đang thực tâm cưu mang kháng chiến. Chính mắt tôi chứng
kiến, hàng loạt vị vừa là trưởng thôn của Bảo Đại, vừa là nơi liên lạc
của du kích kháng chiến.

Cuộc di dân thứ hai: Cuộc di cư vào Nam 1954

Không thể phủ nhận một sự thực rằng, với ngọn cờ chống xâm lược Pháp,
Chính phủ Hồ Chí Minh đã giành được thiện cảm trong dân. Tuy nhiên,
khi Chính phủ Hồ Chí Minh chính thức tuyên bố đi theo con đường cộng
sản, thực hiện cải cách ruộng đất, cái ách độc tài bắt đầu quàng vào
cổ dân, thì lòng dân li tán. Ngọn cờ chính nghĩa bắt đầu nghiêng về
phía những người không cộng sản. Tất nhiên, như đã đề cập ở trên, có
một sự trớ trêu của lịch sử: Những người không cộng sản, theo Hiệp ước
Elysée đã đặt mình trong khuôn khổ vòng tay của người Pháp. Đại bộ
phận dân chúng đương nhiên không thể hiểu được cái điều trớ trêu của
lịch sử: Người Mỹ từ chỗ ủng hộ Hồ Chí Minh với tư cách là đồng minh
chống phát xít, đến chỗ quay lưng ủng hộ Pháp chống lại Hồ Chí Minh
lại nhằm một mục đích khác, là chống lại nguy cơ tiềm tàng cho sự manh
nha một nhà nước cộng sản đối đầu với Mỹ.

Những người cộng sản Việt Nam đã tận dụng ngọn cờ chống xâm lược Pháp,
“gói” luôn người Mỹ vào cái “troupe” xâm lược này, làm cho một bộ phận
rất lớn dân Việt chỉ nhìn thấy Mỹ là kẻ xâm lược, chứ không thấy được
cái nguy cơ xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản trên đất nước này, mà Mỹ
là người ủng hộ những người Việt Nam không cộng sản chống lại chủ
nghĩa cộng sản và nguy cơ trực tiếp là bọn xâm lược Tàu Cộng.

Sự chia rẽ dân tộc nổi lên mạnh mẽ trong cuộc di dân thứ hai này. Ai
là những người tham gia dòng người di cư 1954? Trước hết là dân Thiên
chúa giáo. Họ là những người bị cộng sản kỳ thị mạnh nhất, rồi đến địa
chủ bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, rồi đến tư sản và trí thức.
Trừ những nhà trí thức đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc từ
đầu kháng chiến, hầu hết giáo sư các trường đại học ở Hà Nội đều bỏ đi
theo dòng người di cư vào Nam.

Chưa thấy tài liệu nào công bố con số chi tiết số lượng người di cư
vào Nam 1954, nhưng các bài viết đều đưa con số áng chừng trên dưới 1
triệu dân.

Cuộc di dân thứ ba: Cuộc di tản sau 1975

Cuộc di dân này thường được nói đến sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa
sụp đổ. Theo tôi, đó chỉ là thời điểm khởi đầu cho cuộc di dân thứ ba.
Cuộc di dân này đang còn tiếp diễn cho đến ngày nay và chưa có dấu
hiệu chấm dứt.

Cuộc di cư này gồm nhiều thành phần.

Trước hết, tôi tạm gọi tên là công dân của Việt Nam Cộng hòa, ước tính
khoảng trên dưới 2 triệu dân. Họ di cư ào ạt vào khoảng những năm từ
1975-1980. Trong thành phần của họ, không chỉ có những người là quân
cán chính của Việt Nam Cộng hòa, mà còn có đông đảo thường dân.

Thứ hai, tôi cũng tạm gọi tên là công dân của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, và sau này là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ là những
người vừa di tản theo con đường gọi là “thuyền nhân”, vừa theo dòng
người đi theo các hợp đồng lao động và ở lại định cư theo các cách
thức khác nhau; Họ cũng gồm những du học sinh đi học rồi kiếm việc làm
ở lại sau khi tốt nghiệp. Số này ước tính trên một triệu, sau sinh sôi
nảy nở và hiện chưa có con số nào ước tính được chính xác.

Điều đáng chú ý là, xu hướng di tản hiện nay chưa có dấu hiệu thuyên
giảm, mà vẫn đang có xu hướng tiếp tục.

Bình luận về ba cuộc di dân

Cách đây đã lâu, trong dân gian có lưu truyền một câu chuyện vui: Nếu
lãnh đạo sai thì phải thay lãnh đạo. Ở nước ta lãnh đạo luôn đúng,
không thể thay lãnh đạo được. Mọi tội nợ hiện nay là do dân sai gây
ra. Vậy dân sai thì phải thay dân. Chắc ở nước ta đang thực hiện quá
trình thay dân. Cụ thể là dân Việt sẽ phải đuổi đi hết để thay bằng
dân Tàu? Công nhân Tàu đang tràn ngập đất Việt để chiếm chỗ dân Việt
chúng ta. Còn dân Việt đang được chuyển ra nước ngoài qua những hợp
đồng xuất khẩu lao động.

Đấy là chuyện tiếu lâm. Nhưng trên thực tế, có lẽ các nhà lãnh đạo
cũng phải suy nghĩ, vì sao dân lại cứ thích bỏ đi mãi thế. Mà dân bỏ
chỉ theo một dòng muốn thoát khỏi thể chế cộng sản. Không thấy có dòng
ngược lại?

Trong số những người dân bỏ nước ra đi không chỉ có quân cán chính và
công dân Việt Nam Cộng hòa, mà cả những người là công dân của chế độ
xã hội chủ nghĩa, không chỉ có các doanh gia, mà có cả dân thường, có
cả con em các tướng tá và quan chức cao cấp của chế độ.

Chẳng lẽ dân “thoái hóa” hết rồi sao?

Chẳng lẽ các tướng tá và quan chức cao cấp của chế độ cùng con cái của
họ cũng “thoái hóa” hết rồi sao?

Chẳng lẽ, trừ mấy ông bà giáo sư tiến sĩ trong Hội đồng Lý luận Trung
ương, còn lại, dân Việt Nam ngu đến mức không thấy được chủ nghĩa cộng
sản là “đỉnh cao trí tuệ” và “thiên đường của nhân loại” hay sao?

Đây là câu hỏi rất nhức nhối của lịch sử. Hy vọng các nhà lãnh đạo
Đảng quan tâm trong Đại hội XII sắp tới.

Đó không phải câu chuyện tào lao. Nó có tên gọi trong các văn kiện
truyền thống của Đảng đấy: Trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội I
đến Đại hội XI gọi tên là “Lòng dân”, có tên gọi là “Đường lối dân
vận” của Đảng.

Xin các vị lãnh đạo Đảng tĩnh tâm một chút suy nghĩ về ba cuộc di dân
vĩ đại này, kế đó, cũng cần suy nghĩ về những gì đang diễn ra trên đất
nước chúng ta: Dân đang nổi lên chống đối đấy. Không rõ các vị lãnh
đạo, nhất là Giáo sư Tổng bí thư, có biết cách vào mạng để tìm hiểu
không? Không hiểu những người giúp việc lãnh đạo có cung cấp đầy đủ
thông tin cho các vị không? Dân chống đối đủ thứ: chống đối chiếm đất,
chống đối trao rừng, trao biển, trao mỏ cho bọn xâm lược Tàu Cộng,
chống đối chặt cây bán gỗ cho thương lái Tàu Cộng, chống đối độc tài,
chống đối chia rẽ dân tộc. Trong nhiều cuộc phản kháng của dân, người
ta dám giương ra những biểu tượng của Việt Nam Cộng hòa ngay giữa Hà
Nội.

Tất cả những cái đó đáng để các nhà lãnh đạo Đảng suy nghĩ về đường
lối cho Đại hội XII sắp tới.

V. C. Đ.