Nguyễn Quang: BẢN CHẤT VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA CSVN

Nhân việc các thành phần yêu nước Quốc nội phát động Phong trào “ Tôi muốn biết. . . Chúng ta muốn biết   “, chúng tôi xin cống hiến một số điều đã biết được về đảng CSVN từ năm 1930  đến nay với hy vọng giúp giới trẻ Việt Nam và nhất là đảng viên CSVN có cái nhìn thông suốt ( nhất quán ) về Chủ nghĩa CS và CSVN. 
Chủ nghĩa CS đại Bịp này không những đánh lừa được một số lớn nhân dân ta, mà còn đã đánh lừa được nhiều bậc trí thức tiếng tăm trên thế giới, ngay cả các vị giáo sư của những trường đại học hàng đầu của Đất nước Hoa Kỳ, họ đã bị lừa mà tham gia vào phong trào “ Phản đối chiến tranh Việt Nam “ .

Sau hơn 10 nếm mùi CS, vào năm 1956, những thành phần ưu tú của đất nước đã tham gia vào cuộc chiến chống Pháp thắng lợi vào năm 1954, đã cùng nhau lập nên Phong trào «  Nhân Văn Giai Phẩm “  ở miền Bắc để chống lại CSVN về phương diện Văn hóa. CSVN đã tố cáo Phong trào là « Bôi đen Chế độ « . Phong trào đã đáp lại  là :” Chế độ CSVN đã đen như Nhọ nồi, chẳng có thứ gì để bôi đen thêm được nữa “! Có đi tìm ưu điểm của Chế độ CS chẳng khác nào đi tìm ưu điểm của Cóc, vì nơi đâu ở Cóc cũng chỉ thấy mụn mằn !
Sở dĩ Chúng tôi dùng danh từ Cóc cho CSVN là vì ngoài khuyết điểm Xù Xì, Cóc còn được gọi là «  Cậu Ông Trời «. Các vua của Tàu đã tôn Mình làm Thiên tử, còn Tàu cộng và CSVN lại muốn dùng quyền cậu Cóc át cả Ông Trời, đã kiêu ngạo cao rao: «  Vắt Đất ra Nước, thay Trời làm Mưa, Nghiêng Đồng dốc Nước ra Sông « !

Tội ác của đảng CSVN đối với Nhân dân Việt Nam gần thế kỷ nay không sao kể xiết, tội ác này còn hơn gấp bội tội ác mà quân nhà Minh đã gây ra cho nhân dân Việt Nam.
Cụ Nguyễn Trãi dã viết trong «  Bình Ngô đại cáo »:

Trúc rừng không ghi hết tội
Nước Nam Hải không rửa sạch mùi.
( Bình Ngô đại cáo . Nguyễn Trãi )

Hai câu trên có nghĩa là: Nếu chúng ta chặt hết Trúc trên rừng, vót làm bút viết,  thì những bút ấy có viết mấy cũng không đủ để kể hết tội cuả kẻ thù xâm lược đã gây ra cho Dân tộc Việt Nam.  Nếu lấy Nước biển Nam Hải mà rửa những vết ô nhục do kẻ thù  gây ra cho nhân dân Việt Nam cũng không sao tẩy sạch!

 Khởi đầu, CSVN đã nguyện làm tôi đòi cho Liên Xô và kẻ thù truyền kiếp Tàu, đề chạy cờ Quốc tế Vô sản, họ đã gây ra không biết bao nhiêu là Quốc nạn và Quốc nhục cho Dân tộc Việt Nam trong gần thế kỷ, những tội ác tày trời của đảng CSVN đã được nhân dân Trong và Ngoài nước nêu lên không kể xiết, thiết tưởng không cần làm thêm công việc này nữa, mà chúng tôi chỉ cần tóm tắt một số  nét  Tổng quát  để lớp trẻ có cái nhìn thông suốt hơn, hầu giúp họ không thể bị cái lối Bịp bợm vặt vãnh của bọn Tuyên giáo tiếp tục cãi cối cãi chày để lấp liếm tội ác! .

A.-KÁCH MỆNH VÔ SẢN “ CỦA ĐẢNG CSVN Ở MIỀN BĂC

I.- PHONG TRÀO XÔ - VIẾT NGHỆ - TỊNH
Đảng CSVN khởi đầu lộ diện tại Việt Nam vào năm 1930 – 1931 qua cuộc Bạo động có cái tên Xô - Viết Nghệ - Tịnh.  Trong cuộc bạo loạn này, đảng CSVN do Hồ Chí Minh cầm đầu đã lãnh đạo Công nhân ở thành thị biểu tính chống chế độ bảo hộ của Pháp, Nông dân ở Nông thôn nổi dậy chống chế độ được gọi là Phong kiến Địa chủ của Nam triều. Ở thành thị thì Công nhân thảnh phố Vinh biểu tình ở Bến Thuỷ thuộc Nghệ An; còn Thôn quê ở Nghệ An thì phong trào nổi dậy ở Phủ Đô Lương, Huyện Thanh chương, Phủ Hưng Yên. . . ; còn ở Hà Tịnh thì ở các Huyện Can Lộc, Hương Sơn và Hương Khê ..  
Đặc biệt ở Nông thôn thì hàng đêm các đảng viên đảng CSVN lãnh đạo lớp Bần Cố Nông cầm đuốc sáng rực đi khắp Thôn xóm, hô vang câu khẩu hiệu:

“ Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ “

“  Trí “  là Trí thức, “ Phú”  là Phú nông, “ Địa”  là Địa chủ, Hào là  Hào Lý  ở  địa phương“, đào tận gốc trốc tận rễ “  là tiêu diệt cho hết những thành phần này bằng cách  làm cách mạng Vô sản chuyên chính triệt để, để trong Xã hội chỉ còn lại  Bần Cố nông  và Trung nông mà thôi, thành phần này sẽ giúp CSVN xây dựng Chủ nghĩa Xã hội rồi CS!
Hàng đêm, ở Nông thôn, đoàn biểu tình cầm đuốc rảo khắp hang cùng ngõ hẻm Thôn Xóm.  Họ hô vang khẩu hiệu trên, rồi đốt nhà, cướp của hành hạ Địa chủ, Phú nông, gây ra bao cảnh tang tóc.  Đến năm 1931 thì Phong trào Xô - Viết Nghệ - Tịnh bị thực dân Pháp và chính phủ Nam triều triệt hạ.

Đảng CSVN chống chế độ Thực dân Pháp và Chính phủ lạc hậu Nam triều “ là lý do chính đáng đối với Nhân dân Việt Nam, nhưng để làm cuộc cách mạng bạo loạn Vô sản thì hoàn toàn sai. Cuộc bạo loạn do đảng CSVN lãnh đạo mang trong mình hai Tính chất:
                      *Đảng Bịp CSVN  thời  đó  gọi  là  Việt Minh, được nhân dân tặng danh hiệu “ Nói Láo như Vẹm: V.M: Việt Minh “.  một mặt đã đem cái Ảo tưởng Thiên đàng trần gian của CS quốc tế để Lừa lớp ngu dân.
                      *Mặt khác CSVN  xúi dục thành phần đa số nghèo ngu dốt tụ  tập lại  “  Lấy thịt đẻ người “   để Khủng bố con Người, Cướp Của và phá Nước giúp cho đảng CS xây dựng chế độ Bạo tàn.

 Đảng CSVN đã mang trong mình tính chất : Khủng bố, Giết Người để nắm Chính quyền mà  “ xây dựng  Chế  độ  Độc tài “ để Cướp Của và Bán Nước hầu vinh thân phí gia
 Chúng ta hãy lần lượt điểm qua mọi chính sách của CSVN từ đó tới nay để thấy rõ hơn Bản chất của đảng CSVN.

II.- CÁI GỌI LÀ CÁCH MẠNG MÙA THU NĂM 1945

  Việt Minh  ( CSVN ẩn danh ) ra mắt bằng Cuộc khủng bố giết Người  
Tôi nhớ vào mùa thu năm 1945, khi mới cướp được Chính quyền, CSVN đã nấp dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh  cho thi hành chính sách khủng bố đầu tiên, mỗi làng xã đều cho lôi ra một số người được quy kết là “ Cường hào ác bá “.  Chính quyền mới cho người đến nhà bắt một số người đem ra bắn, mà không có xét xử. Những người này thường là Hào Lý ở Làng Xã, hay Chánh, Phó Tổng hàng Tổng hoặc những người  có liên hệ với Thực dân Pháp, mục đích là “ đe doạ ra uy  “ để không ai dám chống “ Kách mệnh” .
Khi đã nắm được chính quyền, CSVN cho bắc loa khắp đầu đường xó chợ rao vang những lời Bịp bợm về Chế độ, về đảng CSVN. Khi đã xây dựng được cơ chế đảng trong các làng xã, CSVN phát động cuộc Đấu tranh Chính trị vào năm 1951 tại miền Trung.

II.- ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ NĂM 1951 TẠI MIỀN TRUNG

 Đây là cuộc khủng bố  “ dò đường “ khởi đầu cho cái gọi là “ Kách mệnh “ tước quyền Tư hữu của Nhân dân.
Sau khi đã dẹp được phong trào “ Liên Tôn chống cộng ở Nghệ Tịnh “ vào quảng năm 1947 – 1948, CSVN cho phát động cái gọi là cuộc “ Đấu tranh Chính trị “ vào năm 1951. Trong giai đoạn này, trong mỗi làng xã, dưới danh nghĩa là chính quyền Cách mạng, CSVN cho bắt ra một số người có ảnh hưởng trong vùng, đem ra đình làng,  những người này bị  treo lên xà đình hay trói vào cột nhà, cho một số người được CSVN huấn luyện đến xỉ vả về  tội hoạt động Chính trị đảng phái ( những người đấu tố được CSVN mớm cho và học thuộc lòng câu đấu tố ) như  đảng viên Quốc Dân đảng, họ tố cáo đảng này là phản Quốc, thật ra trong thôn quê thời đó chưa ai nghe đến đảng và chẳng biết Quốc Dân đảng là  gì?  
Trường hợp đặc biệt có một thấy giáo ở xã Thanh Lương thuộc huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An cũng bị bắt ra đấu tố về tội phản động Chính trị. Xã này ở sát mặt biển, đôi khi bị quân Pháp từ ngoài biển đổ bộ vào để thanh toán CS. Ông giáo bị vu cho là hoạt động cho Thực dân. Ông giáo mặc bộ đồ Kaki Nam Định. Trong khi đấu tố, Áo quần ông bị xé ra từng mảnh, các mảnh được cuộn vào các ngón tay, xong tẩm dầu hỏa mà đốt cho cháy rụi!
Qua phong trào này, CSVN đã gieo rắc cảm giác kinh hoàng khắp nông thôn, khiến cho  cả bạn ( Bần Cố Trung nông ) lẫn Thù ( Địa chủ, Phú nông, Trí thức ) đều khiếp sợ, chẳng mấy ai dám nổi lên chống đối!
Sau đó CSVN tuyên bố, nay Nhân dân đã giác ngộ “ Kách mệnh “, họ đòi phải “ Phóng tay Phát động Quần chúng”  để làm Kách mệnh Vô sản hầu đem lại quyền làm Chủ đất nước cho Nhân dân tức là Bần Cố nông do Công nhân lãnh đạo.
Đây là cú thăm dò phản ứng của tầng lớp Trí thức, của các Tôn giáo, của các Địa chủ Phú nông để thực hiện công cuộc  “ tước bỏ quyền Tư hữu “ .

III.- HAI GIAI ĐOẠN TƯỚC BỎ QUYỀN TƯ HỮU
   
CS nhân danh Công bằng Xã hội để tước bỏ quyền Tư hữu của toàn dân qua hai giai đoạn: Đầu tiên là Giảm Tô giảm Tức với Thuế Nông nghiệp.

1.- Giảm Tô giảm Tức
                       Tô là Hoa lợi về số thóc của Tá điền nạp cho Địa chủ về số ruộng của Địa chủ cho tá điền cày Thuê. Phong trào này được cao rao là đòi lại quyền lợi cho “ những người đi ở làm công “ cho Địa chủ Phú nông mà bị bóc lột một cách bất công.
                      Tức là Số tiền Tá điền vay nợ của  Địa chủ Phú nông với lãi suất nặng nề..
Nay CSVN giúp Bần cố nông đòi Địa chủ Phú nông phải trả lại Tô Tức, Họ giúp tính xem từ trước tới nay Địa chủ Phú nông đã bóc lột của Bần cố nông bao nhiêu Tô Tức,nay bắt phải trả lại hết..
CSVN tự hào lãnh đạo bần cố nông giúp thu lại Tô Tức, tức là  thực hiện Công bằng xã hội. Thực ra đây là giai đoạn Cướp Của Nổi của Địa chủ, Phú nông để đem lại Quyền, Lợi cho đảng Cướp nguỵ danh!

2.- Tiếp tới là Cải Cách ruộng đất
Để tước Của Chìm của Địa chủ: Đó là Nhà cửa và Ruộng đất của Địa chủ để cho đảng quản lý tài sản Quốc gia !

IV.-THUẾ NÔNG NGHIỆP VỚI  GIẢM TÔ GIẢM TỨC  

 Mục tiêu Giảm Tô giảm Tức là dùng Thuế nông nghiệp để Cướp “ Của Nổi “ của Địa
chủ, Phú nông.

1.-Mục tiêu của  Thuế Nông nghiệp
 Đảng CSVN nhân danh Giảm Tô Giảm Tức để thực thi Công bằng xã hội qua Thuế Nông nghiệp để tước hết “ Của nổi “ của Điạ Chủ và Phú nông  như  Lúa thóc, các phương tiện sản xuất nông nghiệp như trâu bò cùng vật dụng quý giá trong nhà. Đây là bước đầu tiên nhằm xoá bỏ quyển Tư hữu.

2.-Phương cách thức hiện
a.- Bình bầu lại Diện tích và Sản lượng tất cả ruộng đất.
Ỡ mỗi Thôn Xóm, CSVN cho tuyển chọn một ban goi là “ Lão nông tri điền “ tức là những người cày nghèo và có tuổi cho là biết rõ ruộng đất “.  Họ có nhiệm vụ bình bầu lại Diện tích và Sản lượng của tất cả ruộng đất.   Tuy mỗi mảnh ruộng đất đều có Trích lục do sở Đạc điền của Pháp thực hiện, mỗi tờ Trích lực đều có tên người Chủ, bản đồ ghi rõ Hình dáng, Diện tích và tiếp giáp 4 bên, nhưng  CSVN vẫn cho rằng những nhà giàu đã liên lạc với sở Đạc Điền của Pháp khai man Diện tích, nay phải bầu lại cho được công bằng. không những phải bầu lại diện tích,mà lại phải bầu lại cả Sản lượng, quyết định mỗi mùa mỗi sào thu hoạch được bao nhiêu Ký thóc.   CSVN đã dựa vào trí ước đoán của Bần Cố nông vô học để phủ nhận kết quả đo đạc một cách khoa học của Pháp. Cái xảo thuật là những Diện tích và Sản lượng ruộng đất của Địa chủ và Phú nông đều được đảng hướng dẫn cho Bần Cố nông nâng cao một cách kỷ lục.

b.- Lập mẫu khai thuế Nông nghiệp
Vào mùa Thuế, tất cả mọi gia đình trong Làng Xã đều phải khai vào Mẫu khai thuế, trong mẫu khai phải khai rõ những mảnh ruộng đất ở đâu, Diện tích  và Sản lượng là bao nhiêu ( do kết quả Bình bầu của ban Lão Nông tri điền ) , xong cộng tất cả Sản lượng lại chia cho số Nhân khẩu trong Gia đình, xem mỗi nhân khẩu  có bao nhiêu ký thóc, căn cứ vào số thóc của từng nhân khẩu nhận được so với bảng thuế ấn định sẵn, để biết là bị chịu thuế bao nhiêu %  mà tính thuế .

c.- Mẫu Thuế Nông nghiệp
Có mẫu Thuế từ Trung ương ( thực ra từ Trung cộng ) gởi về ấn định mức số thóc của từng nhân khẩu trong gia đình, tỷ lệ từ 5% - đến 45%. ( ví dụ số thóc mỗi nhân khẩu là 100 kg thì chiụ thuế 5%, nhân khẩu có số thóc từ 101 kg – 150 kg thì chịu thuế là 10% . . . ). Ban tính thuế cứ dựa vào mức phần trăm của mẫu này mà tính phần Thuế Chính.  Ngoài ra còn có thuế Phụ thu, tức là 15% của số Thuế Chính.
Với mức tăng Diện tích, Sản lượng cũng như Tỷ lệ thuế lũy tiến số thuế của Địa chủ và Phú nông tăng lên một cách kinh hoàng.

d.- Thu thuế
Khi ấn định thời gian nộp thuế, các nơi thu thuế đánh trống, bắc loa ra rả ngày đêm, cổ động thúc dục việc thanh toán thuế cho nhanh. Kết quả là  các gia đình địa chủ Phú nông có đem hết thóc đã thu được mà đóng cũng không đủ, họ bị Ban thu thuế  bức bách, uy hiếp  ngày đêm, nên phải đem bán cả trâu bò, nông cụ, cùng đồ quý giá ngay cả Bàn thờ, chén bát quý trong gia đình bán mà nạp cũng không đủ, nhất là không biết bán cho ai, vì ai cũng bán cả. Trường hợp ở Nghệ An thì từng đoàn người dắt trâu bò và mọi thứ đồ đạc kéo nhau qua tỉnh Hà Tịnh mà bán đổ bán tháo, vì nơi đây chưa phát động phong trào! Có người ở Xã Phượng Nghi, huyện Thanh chương, NghệAn  định sáng mai dắt bò đi bán, nhưng đến sáng ngày thì bò lại đẻ con, người đó vổ vào con bò mà khóc, bó ơi bò, sao mày không để lúc khác, lại đẻ lúc này đây, tao biết tính làm sao đây ???   Thật là Họa Phúc trùng phúng!

3.- Kết quả
Sau Vụ thuế Nông nghiệp hay Giảm tô giảm tức này, khung cảnh an bình nông thôn trở nên hết sức tiêu điều xơ xác, nhân hoạ này chẳng khác nào một  đại Thiên tai!.
CSVN đã nhân danh Công bình xã hội, lãnh đạo Bần Cố nông thực hiện việc ăn cướp của Nổi của Địa chủ, Phú Nông.
Cái xảo thuật là dùng bàn tay Bần Cố nông triệt hạ giai cấp Phú Nông Địa chủ để xây dựng đảng CSVN.
 
V.- CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

1.- Mục tiêu của Cải cách ruộng đất.
Triệt hạ giai cấp địa chủ về mọi phương diện:
Kinh tế, Chính trị, Văn hoá Giáo dục và Thuần phong mỹ tục.

Theo lý thuyết CS thì thành phần lãnh đạo Kách mệnh thuộc về tay Công nhân, vì Công nhân không có quyền Tư hữu như Nông dân, nên trung thành với cách mạng vô sản. Những thành phần đầu não như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh,  Lê Duẩn. . . biện hộ rằng, tuy không là thành phần công nhân, nông dân nhưng đã giác ngộ quyền lợi của giai cấp Công nhân nên có khả năng lãnh đạo Kách mệnh !     Đường lối của Kách mệnh là: “ Dựa vào  Bần Cố Nông, liên kết với Trung nông, cô lập Phú nông, đấu tranh với Địa chủhầu phá hết mọi nền tảng cũ của Quốc gia để làm cách mạng Quôc tế theo  Liên Xô và Tàu cộng mà ăn cuớp cho đảng.
CS biện lý rằng vì bị áp bức bóc lột mà Bần cố nông trở nên ngu dốt, nên đảng phải lãnh đạo họ để khi được giải phóng thì họ trở nên rất sáng tạo và có khả năng làm Chủ đất nước.
2.-  Đường lối CSVN  triệt hạ chế độ “ Phong kiến ngụy tạo”

 Ở Viêt Nam tuy có Giàu nghèo cách biệt nhưng thực sự không có chế độ Phong kiến, chỉ có Tàu mới có Chế độ đó. Các vua Tàu chiếm đất đai của Quốc gia rồi “ phong “ cho bầy tôi để cùng nhau giữ ngôi, vì thiếu hiểu biết nên CSVN Việt Nam vẫn rập khuôn theo Tàu cộng để diệt chế độ Vua quan, được gán bừa cho chế độ cũ là Chế độ Phong kiến.  
Được Tàu cộng dạy dỗ cho cách tiêu diệt chế độ Phong kiến Tàu, nên CSVN phải tìm mọi cách cáo gian lập nên chế độ Phong kiến ảo tưởng để làm Kách mệnh, hầu chiếm ngôi trường trị, CSVN dạy cho đội Cải cách đến trong mọi Làng xã thực hiện  phương cách tiêu diệt giai cấp Địa chủ của Tàu bằng cách giúp Bần Cố nông Việt Nam  lập mẫu tội ác của Địa chủ :     
3.-Mẫu lập Biểu Tội ác của Địa chủ
                      * Bóc lột về Kinh tế. Giai cấp Địa chủ Phú nông áp bức bóc lột thành phần Bần cố nông về kinh tế.  
                      *Phản động về Chính trị.  CS cho rằng Địa chủ Phú nông  luôn bám vào quyền Tư hữu, nên rất phản động, không bao giờ chấp nhận quyền Công hữu theo CS, nhất là tội theo đảng phái mà phản quốc như Quốc Dân đảng, CS đệ tứ, Dân Xã đảng, đảng Duy Dân . . . ( Một công hai chuyện, CSVN vừa dẹp Địa chủ để thiết lập Chế độ CS vừa diệt đảng phái khác để Độc tôn ).
                      * Suy đồi về Văn hoá. CSVN cho Văn hoá Cha ông là quê mùa lạc hậu, còn Văn hoá Tây phương là đồi trụỵ, nên phải đào thải.  
                      * Tôn giáo là thuốc phiện nên phải loại trừ để thay vào đạo đức CS.
                      *Sa đọa về thuần phong mỹ tục. Giai cấp Địa chủ Phú nông đều sa đọa về thuần phong mỹ tục như hủ hoá, loạn luân.
CSVN phải gán cho được chế độ Phong kiến Việt Nam do vua quan và địa chủ đều phạm 5 tội ác trên, để chứng minh việc giải thế chế độ cũ là chính nghĩa, và việc phải lập nên Chế độ Dân chủ “ Tập trung” là cần thiết! .

4.-Ấn Định số thành phần Địa chủ trong mỗi Xã là 5%
Vì mục địch là xoá bỏ chế độ cũ bằng cách tước quyền Tư hữu của Giai cấp địa chủ, cũng như làm giảm Uy thế của giai cấp Địa chỉ, nên  làng nào ít nhất cũng phải quy cho được 5 %  Địa chủ, mỗi Địa chủ phải có một số ruộng đất lớn, để có cớ mà gán 5  “ tội ác mẫu “ kê trên  . 
Có một Địa chủ ở xã Liên Ninh, Phủ Mỹ Đức, Tỉnh Hà Đông, chỉ có vài mẫu ruộng mà được đội CCRĐ dạy cho Bấn Cố nông nâng lên 12 mẫu.  Vì không tăng diện tích những ruộng đất lên cũng như mọi tội ác phổ biến trong các lãnh vực khác như thế thì làm sao chứng tỏ đâu đâu cũng phải có Địa chủ đủ gian ác để mà giải thế chế độ cũ. Vấn đề là đâu cũng phải có Địa chủ, và Địa chủ nào cũng đều phạm vào 5 tội ác trên, điạ chủ nào cũng gian ác, đội CCRĐ phải thi đua xây dựng cho được cái Biều về 5 loại tội ác trên, chẳng khác nào phải tạo ra con ếch Địa chủ phồng to bằng con bò để cho vửa khuôn chuồng bò tội ác đã có khuôn đúc sẵn,  có thế  cấp trên mới chấp nhận  việc phát động được tốt.

Đây là cái khuôn tội ác, “ tội ác của giai cấp Địa chủ phải được nâng cấp” để được nhét gọn vào khuôn đúc sẵn mà Đấu tố. Chữ nâng cấp có nghĩa là những tội ác tuy thực sự không có, nhưng đều phải “ đặt để ra “ mà nhét vào cho có “ Lý chứng cụ  thể “ ( ngụy tạo )  mà đấu tố. Vì trong cuốc đấu tố phải có hai yếu tố:
                      Đấu Lý là những chứng cớ cụ thể về tội ác ( được đặt để ra ) về 5 tội ác trên, và
                      Đấu Lực là lấy Số đông quần chúng mà áp đảo giai cấp Địa chủ. Hễ Địa chủ chối lời tố cáo sai thì cả đám đông hô vang” Đá đảo Địa chủ ngoan cố ! Đá  đảo Địa chủ gian ác! “, nhất là những hành động hạ uy thế bằng cách xỉ vả, hành hạ đủ cách như bắt quỳ xuống đứng lên, nhổ hết râu, lấy bó đuốc dúi vào mặt. . .

5.- Công việc của đội CCRĐ

 Trước khi phát động Cải cách Ruộng Đất, CSVN gởi  cán bộ  CCRĐ qua  Tàu học tập và nhận chỉ thị cùng tài liệu thực hiện, nhất là mang cuốn phim Bạch Mao nữ tố cáo tội ác Điạ chủ Tàu về để học tập, hầu nuôi dưỡng mối Hận thù gỉả tạo giữa Bần cố nông và  Địa chủ Việt Nam, đem mối Hận thù của Phong kiến Tàu đổ lên đầu chế độ Quân chủ Việt Nam, CSVN bất chấp phương tiện cáo gian và bạo động nào, miễn là triệt hạ được giai cấp Địa chủ Phú nông với hai mục tiêu:
                      1.- Dùng hành động bạo lực và khủng bố để Tước đoạt quyền Tư hữu và hạ Uy thế của giai cấp địa chủ cùng chế độ cũ, tuy đã bị CS cướp.
                      2.-Kể công lãnh đạo tài tình với Bần cố nông để nắm chính quyền mà thực thi cái gọi là  cuộc cách mạng Vô sản chuyên chính mà  lên ngôi độc trị
.
6.-Chuẩn bị Đấu tố

 Trung ương CSVN gởi cán bộ CCRĐ về Nông thôn tới các Làng xóm để bắt rễ xâu chuỗi  và Tam cùng ( Cùng Ăn, cùng Ở, cùng Làm ) để chuẩn bị Phát động Cải Cách.  
Khi về nông thôn cán bộ CCRĐ tìm đến ăn ở với những người Bần Cố nông để thực hiện cho được các mẫu được gọi là tội ác của giai cấp Địa chủ.   Hàng ngày cán bộ  đội huấn luyện Bần cố nông những tội ác đưọc gán ghép cho giai cấp địa chủ về bóc lột  Kinh tế, phản động về Chính trị, và hành vi xâm phạm thuần phong mỹ tục thuộc lãnh vực văn hoá . Dạy cho những bấn cố nông khác nhau nhớ được về các tội ác trên là vấn đề khó khăn. 
Khi đã  gầy dựng được bản cáo trạng tội ác  thì phải thực tập đấu tố.  Đội cho dùng hình nhân bằng rơm bện lại hay khúc cây chuối làm Địa chủ mà thực tập đấu tố cho thành thạo, phải huấn luyện thái độ căm thù với những lời nói đằng đằng sát khi, tay chân phải cử động xỉ xói vào mặt Địa chủ  như kiểu muốn ăn tươi nuốt sống để thể hiện căm thù!.
 Để dụ dỗ Bần cố nông làm chuyện đặt để gian ác, thì đội phải hứa chia cho nhà cữa ruộng vướn và chức vị trong chính quyền địa phương.

Để  thực hiện việc Con đấu Cha, Vợ đấu Chồng, người Thân đấu nhau thì cán bộ Đội ( CCRĐ) đang đêm khuya gọi người Con tới, Cán bộ nói với người Con: Mầy có biết không, Cha mày đã  phạm nhiều tội ác, là kẻ thù của Ông Bà Nông dân, tất phải tiêu diệt, nhưng mày còn trẻ, chưa nhúng tay vào tội ác , đảng rất nhân đạo, nếu mày theo Cha mày, mày cùng chịu cùng số phận, nếu mày muốn  đứng với phe Nhân dân thì Nhân dân sẽ  cưu mang mầy.
Mầy phải kiên định lập trường đứng về phe nào: Nhân dân hay Địa chủ? Đứng về Nhân dân thì được Nhân dân cưu mang giúp đỡ, còn theo phe Địa chủ thì nhất định bị tiêu diệt. Trước tình trạng bị đầy vào chân tường này thì người con có hai phản  ứng:
                      *Vì thương Cha Mẹ, nhất định chống, nên bị giam lại, có trường hợp đem giam vào chuồng bò.
                      * Còn trưòng hơp chịu đứng về phía Nhân dân, thì người con phải dứt khoát lập trường, buộc người con phải đứng lên tố cáo tội ác của Cha Mẹ: Tiền  bạc của cải dấu ờ đâu?  Liên lạc với ai làm chính trị phản động?   Xâm phạm những thuần phong mỹ tục nào, Hủ hóa với ai ? . . . Những việc này đội cải cách sẽ mớm cho và huấn luyện chu đáo.
                      * Còn trường hợp Vợ đấu Chồng cũng như những người Thân đấu nhau cũng được dùng phương cách tương tự, một mặt khuyến dụ cho Quyển và Lợi sau khi đấu tố xong, mặt khác là đẩy họ vào thế chân tường, rồi bày đường dạy họ làm việc thương luân bại lý!

Trong các vấn đề đem ra đấu tố thì phải nêu rõ ai đấu với ai, vì lý do nào , ngày nào giờ nào, ở đâu,  việc làm như thế nào, tổn hại bao nhiêu, thật là cụ thể đề là lừa quần chúng, không cần đến sư thật.   Có vô số sự thật trái ngược với đấu tố, như việc giết bộ đội về làng mua thực phẩm, địa chủ bị cáo là giết đi rồi ném trôi sông với chứng cớ cụ thể. Sau đó thì người bộ đội đó lại xuất hiện!
 Cũng như trong thời gian phát động, cán bộ đội cho người phá hoại vườn của nông dân cũng như đem tro có trộn  ớt bỏ vào giếng nước, rồi kết án là  địa chủ phản ứng lại, vì cho rằng khi phát động tốt thì địa chủ mới phản ứng lại như thế!
Còn việc đấu tố phản động mà tôi đươc  mục kích là  người đấu tố Địa chủ rằng: hôm đó ngày đó, giờ đó tao thấy mày đứng nơi bờ giếng với một người mà tao không biết tên, từ Hà nội về ( Hà Đông ), vì đứng xa tao không nghe rõ, nhưng  nhất định mày  bàn chuyện phản động của Quốc Dân đảng với nhau!
Trong các cuộc đấu Lý với nhau toàn là những chuyện cười ra nước mắt như thế, chuyện mà bần cố nông chưa bao giờ nghe biết tới, cái gì cũng lạ lùng hết, quá tầm hiểu biết của mình, nên cũng cứ tin đảng, vì đảng là cứu tinh của giai cấp mình!
CSVN tin rằng có làm như vậy mới chứng minh được tội ác to lớn của giai cấp địa chủ, của chế độ cũ, và như thế việc lãnh đạo của CSVN mới tài tình, việc đảng dành quyền lãnh đạo và độc tài là cần thiết ! Độc tài với kẻ thù và Dân chủ với Bần cố nông !

Điểm đặc biệt của CS là việc làm nào cũng thực hiện vào ban đêm, tổ chức đấu tố địa chủ nơi mỗi xóm được thực thiện hàng đêm trong 6 tháng trời từ 8 giờ tối đến 1, 2 giờ sáng. Cán bộ đội Truy bức tội địa chủ phú nông hay thành phần có máu mặt cho là phản động đều thưc hiện vào đêm khuya, ép con cái hay ngưòi thân tố cáo địa chủ cũng thực hiện vào đêm khuya, việc đấu tố đĩa chủ cũng tổ chức vào đêm khuya với  những bó đuốc nhấp nháy khắp làng xóm rồi đấu trường trong đêm cùng tiếng loa vang khắp làng xóm, mục đích là dùng sự tịch mịch ban đêm cùng ánh sáng, tiếng động tăng thêm  tinh thần khủng bố!
   
7.- Công việc của đội CCRĐ phải hoàn tất

a.- Ban ngày
Khi được phái về các Xã để phát động Phong trào Cải cách Ruộng Đất,Đội CCRĐ chuẩn bị kê khai đầy đủ 5 điểm đặc biệt về mẫu tội ác cụ thể để chứng minh giai cấp  Địa chủ đâu đâu cũng:
                      1.- Bóc lột về Kinh tế :  Những bần cố nông nào bị bóc lột, bao nhiêu công, bao lâu và bao nhiêu của ?
                      2.- Phản động về Chính trị . Địa chủ  Giao dịch với những đảng phái phàn dộng nào, ngày nào giờ nào, nói với nhau những gì , bao lâu và  bao nhiêu lần ?
                      3.- Suy đồi về văn hoá, mê tín bằng tôn giáo.  Sách vở của Cha ông là lạc hậu, của Tây phương là đồi truỵ, nên sách vở cũ phải bị tịch thu và một số đem đốt, thay thế vào đó  bằng sách của Mác Lênin. Mao Trạch Đông . 
                      4.- Giai cấp Địa chủ đã bị hủ hóa vi Xâm phạm thuần phong mỹ tục.  Hủ hoá với ai, bao nhiêu lần, ngày giờ nào, ở đâu, bao nhiêu người, bao nhiêu lần? 

                      Tất cả để chứng minh: Một chế độ mang nhiều tội ác như thế, nên phải giải thể , để thay thế vào chế độ khác nhân đạo và công bằng hơn, đó là chế độ XHCN rồi CS.  

b.-Ban Đêm
Hội họp thôn xóm hàng đêm để huấn luyện tố khổ
Trong khoảng 6 tháng, trừ giai cấp Địa chủ bị bao vây, Phú nông bị cô lập, mọi thành phần Nhân dân trong các thôn xóm từ 8 giờ tối phải tập họp lại để nghe cán bộ CS cao rao về sự lãnh đạo của cái gọi là Chính quyền mới,nhất là kể tôi ác của CS bên Tàu cũng như các nơi khác trong nước, nhằm gợi ý cho thanh phần Bần Cố nông biết cách học những tội ác mẫu để gán vào cho các địa chủ địa phương, nhiều nơi được chiếu bộ phim Bạch Mao Nữ của Tàu. Bạch Mao nữ là Một người nữ già ăn mặc rách rưới bẩn thiủ, tóc bạc phơ, thân hình nhỏ bé gấy gò, vai được cài vào cái cần của cối xay, Bạch Mao Nữ thay bò kéo cần quay cối xay xoay quanh thớt quay để xay lúa hay ép mía. Hình ảnh vô nhân đạo này khêu gợi lòng Hận thù của Bần Cố nông đối với Địa chủ. Suốt 6 tháng, đêm nào cũng họp từ 8:00 tối đến 1:00 – 2:00 giờ sáng để kể các loại tội ác của điạ chủ để nung nấu Hận thù giai cấp. Trong khoảng thời gian đó không khí hận thù ngập phủ cả nông thôn.

Trong khi chuẩn bị hôi họp hàng đêm trong 6 tháng trời để chuẩn bị đấu tố, các Gia đình địa chủ đều bị bao vây, không được ai liên lạc hay có bất cứ liên hệ nào, ngày đêm bị loa đầu làng cuối ngõ tố cáo tội ác, có nhiều người bị thiếu gạo ăn ngay cả thiếu lửa mà bị chết đói, như Cha của BS Hoàng Đình Cầu ở Thanh chương, Nghệ An, trong khi BS Cầu đang làm việc ở Hà nội với chế độ CS.

8.- Đấu trường và Cuộc Đấu tố

Không gian đấu trường : Nơi bãi đất trống

Thời gian: Ban đêm

Thành phần tham dự: Toàn dân,Thành phần đấu tố: Bần Cố nông

                      Thành phần bị đấu: Địa chủ  Thành phần tham quan: con cái Địa chủ.

Trong đêm tối mù mịt, đấu trường được các bó đuốc thắp sáng khi tỏ khi mờ.  Chính giữa đấu trường có một cái bàn cho Toà án Nhân dân, thành phần Thẩm phán là bần Cố Nông  trong Xã .   Đối diện với Bàn của Toà án nhân dân là nhân dân trong Làng với nhiều bó đuốc đứng chật ních xung quanh .   Cạnh là một cái rặc ( như chuồng bò ) nhốt con cái địa chủ vào đó để cho chứng kiến cảnh đấu tố “ Long Trời Lở Đất “ của ông bà Bần Cố nông.

9.- Cách đấu tố: Đấu Lý và đấu Lực

a.-Đấu lý
Người Địa chủ bị đấu được đem ra đứng trước mặt  Bàn Toà án Nhân dân. Lần lượt các Bần cố nông lên tố các tội ác của Địa chủ về cách đối xử tàn tệ, về những bóc lột từng Bần cố nông tích lũy bao năm qua  với bao nhiêu sức lực, bao nhiêu lúa thóc, tiển của.
Có trường hợp Con lên đấu Cha. Trước tiên người Con hỏi: Để hạ uy thế Địa chủ, người con hỏi: Mầy biết Tao là ai không ? ( Lẽ tất nhiên là cán bộ đội bắt phải làm ).  Ngưòi Địa chủ thưa : Thưa cậu tôi biết rõ cậu, cậu là Ông tên A tên B gì đó. Người con hỏi? Bao nhiêu vàng Bạc tiền của mày cất dầu nơi đâu ? Dạ, Thưa tôi dùng những thứ đó nuôi cậu, nhét vào trong họng cậu hết rồi!. . . .
Có trường hợp một người nữ lên tố ông Phó tổng tên Ngươn rằng vào ngày đó giờ đó, ở chỗ đó, mày hiếp tao tàn nhẫn, như thế này này. Ông Phó tổng nhận là có và nói rằng, việc này tôi làm nhiểu lắm, các người không biết hết đâu, để tôi kể cho mà nghe. Thế rồi ông chỉ mặt vào các tên cán bộ nữ trong làng mà ông cho là đã hiếp một cách cụ thể như người đấu trước tiên, làm cho  cuộc đấu phải hủy bỏ và được tổ chức Tố vào đêm khác!
Có một ông Cụ trước làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Huyện, bị một người nữ lên tố, bảo : bộ râu của Mày cũng giống như . . . của Bà,, khi mãn hạn giam về nhà, ông cạo nhẵn hết râu !

b.-Đấu Lực
Những trường hợp bị đấu về các tội ác mà Địa chủ chối thì liển cả đầu trường hô vang “Địa chù ngoan cố, Địa chủ gian ác! . . .  “ có trường hợp bắt Điạ chủ quý xuống đứng lên, có người làm có người thì không , họ xỉ vả, duí đuốc vào mặt, nhổ hết râu cằm. Khi bị đấu Ông Phó Lý ở làng Phú Lập, tổng Bích Hào tuy đã bị nhổ hết râu cằm, chỉ nói một câu: “ Tạo để đức cho con cái, không thể nói láo như chúng mày “ cho đến khi bị đem đi bắn!
Vấn đề đấu tố như thế, có mục địch là hạ cho tận cùng uy thế của giai cấp Địa chủ mà Bần cố nông đang có tâm lý chưa coi thường được.
Còn Trường hợp Người Địa chủ không những nhận hết những tội đã bị tố, mà còn nhận thêm nhiều hơn nữa, thành ra các Tố viên bị hụt hẩng, cuộc đấu mất hết tinh thần và mất ý nghĩa.

10.-Kết quả:
Chế độ cũ mà đại diện  là Giai cấp Địa chủ và Quan lại bị triệt hạ đến nền tàng

Vì phạm tội bóc lột Kinh tế, gây Bất công xã hội nên tài sản bị tịch thu hét, lấy cớ Công bằng để buộc phải trả lại nhà cửa ruộng đất cho Bần Cố nông..
phản động về Chính trị, nên Chế độ Cũ phải giải thể để thay thế vào một chính quyền được cao ra là “ của Dân do Dân và vì Dân”.
Vì  đồi trụy về Văn hoá và phạm nhiều tội về Thuần phong mỹ tục, nên phải tịch thu hết sách vở cũ để thay thế vào sách vở Mác Lênin, Mao Trạch Đông.
Một chế độ xấu xa như vậy cần phải giải thể, những người đại diện cho chế độ là chế độ cũ đã bĩ giải thể, còn địa chủ tàn ác như vậy, nên phải tiêu diệt cho tận nền, nghĩa là phải giết và giam khổ sai, bỏ đói đau không thuốc thang cho đến chết. Sau CCRĐ những thành phần có máu mặt và học thức đều bị giết hay bị giam, tuy chưa đến nỗi như Kampuchia thời Polpot cũng do Tàu cộng dật dây!. Đó là bàn tay nhuốm máu  của đồ tể Mao Trạch Đông và Hố Chí Minh!     
Tuy đấu tố bị bóc lột nhiu như thế, nhưng tài sản địa chủ chỉ còn cái nhà và một số ruộng đất. Tất cả đu bị tịch thu, gia đình địa chủ bị  đuổi tới ở nhà rách nát cua Bần cố nông, còn Bn cố nông  thì được chia nhà và ruộng đất của  địa chủ, một nhà nhiều gian được cắt ra chia cho vài bần cố nông có công đấu tố, còn ruộng đất thì mỗi Bần cố nông đưc Vài sào, những thứ được chia cho bần cố nông gọi  là Quả Thực.
Khi được chia quả thực chừng đó, tính ra chẳng bỏ công, vì nghe theo đội CCRĐ vu oan mà phạm tội ác giết người, thì Bần Cố nông cũng bị hối hận mà loạn tâm về việc vu oan  của mình!
Đó là đợt tước quyn Tư hữu lần thứ hai.

Sau đó ít lâu  thì đến lượt tước đoạt quyền Tư hữu toàn dân, bằng cách bắt làm ăn Tập Thể, mọi ruộng đất đều do đảng quản lý,toàn dân trở thành Vô sản.. Hàng ngày mọi người nghe kẻng báo Giờ làm thì ra làm việc, nghe kẻng báo Giờ nghỉ thì bỏ cuốc xuống ra về, làm việc vừa vui vừa khỏe mà lại không phải lo gì cả . Nhưng vừa làm vừa nghỉ, sản xuất không đủ ăn, nên phải ăn Bo bo do nước bạn Đông Âu viện trợ thứ cho ngựa ăn, ăn vào bị chảy máu bao tử và còn bị nhốt vào chuồng Hộ khẩu với cái Còng tổ Dân phố, không tự ý đi đâu được. Thế là toàn dân  “ hạnh ngộ “ Thiên đàng Trần gian của CS, vì
 mọi người Dân  đã mất quyền Ăn, quyền  Nói và quyền làm việc Tự do!
Thế là đảng CSVN đã tài tình lãnh đạo Nhân Dân vào Thiên đàng Trần gian!


III.- CÔNG NÔNG KÔNG KÊNH  ĐẢNG CSVN LÊN NGÔI ĐỘC TRỊ
Khi đã tước hết quyền Tư hữu của toàn dân, bắt toàn dân nhốt vào chuồng  Hộ khẩu đề cột chân làm Nô lệ, và đem điều  4 vào Hiến pháp để  đảng ngồi chểm chệ lên ba ngành của nền Dân chủ “ Tập trung “, thế là đang đã hoàn thành nhiệm vụ độc quyền độc trị.
Từ nay đảng tha hồ tự tung tự tác mà độc tài, mà tham nhũng, ngay cả việc viết ra các Nghị định  theo Luật rừng để bách hại thành phần yêu nước để mong dâng nước trót lọt cho Tàu cộng, kẻ đã “ bày đường chỉ lối “ và cung cấp “ phương tiện chiến tranh “ cho  việc cướp Nước.
 Tất cả những hành động của “ Kách mệnh Vô sản chuyên chính “ đều làm giáng cấp phẩm giá con Người, phá nền Đạo lý “ Nhân Nghĩa “ của Dân tộc đã được Tổ tiên xây dựng qua hàng ngàn năm, Thế là CSVN đã phá sập hết Thượng tằng kiến trúc và Hạ tằng cơ sớ của Quốc gia, Dân tộc!


B.- SỬA SAI

I.- NGUYÊN NHÂN SỬA SAI  CCRĐ

Sở dĩ phải Sửa sai về CCRĐ là vì hệ quả tang thương của những việc “ vu oan trắng trợn  cho Địa chủ mà sự thật ngược lại đã xẩy ra nhãn tiền “, CSVN cứng họng không liến láo chối cãi lấp liếm được, như trường hợp một địa chủ bị tố cáo giết một Bộ đội làm việc cấp dưỡng, đi mua thực phẩm của Dân chúng cho nhà Bếp Bộ đội. Địa chủ tên Dự bị đem ra ngoài bãi cát của sông Lam bắn chết, vợ con xin đem đi chôn, nhưng không cho, bắt lấy dây cột cổ lôi đi, lấy chiếu gói lại mà chôn.
Được ít lâu người Bộ đội đó lại xuất hiện, người thân của địa chu bị giết, đi tìm người đấu tố và cán bộ đội,mà đập đánh báo thù. 
Có trường hợp khi bắn Địa chủ xong,  cán CCRĐ cầm miếng xương quai sanh bị văng ra ném cho nhau ăn mừng chiến thắng, rồi đem chôn lộn ngược nơi hầm tròn trú ẩn  ẩn máy bay.
Có người đấu tố láo khiến địa chủ bị giết,bị lương tâm cắn rứt, nên bị khủng hoảng tâm thần.
Có trường hợp người Địa chủ  bị Cán bộ đội tra khảo vàng, đang  đêm đem ra ngài bãi tha ma, bổng có con chuột chù chạy qua, đập chết, bắt nhét vào miệng, buộc địa chủ ngậm vào miệng để kê khai vàng. Khi người Địa chủ về nhà cứ khạc nhổ  mãi cho đến chết. Sau đó người thân của địa chủ vác cuốc đập vào đầu tên đội ấy. Trường hợp này xẩy ra ở xã Hưng Thông, Phủ Hưng Yên, Nghệ An.
Vì những vụ cáo gian như thế mà ở ngoại thành Hà nội có trường hợp người đấu tố bị rạch miêng, bảo  để giúp người đấu tố có miệng rộng để đấu thêm.
Ở  xã Đông Lộ , huyện Hương Sơn Hà Tĩnh, có mấy người cày ruộng gần vệ đường, thấy người cán bộ đội đạp xe đạp đi qua, bèn lên đường bắt xuống xe, hỏi mầy có phải cán bộ đội ( CCRĐ ) không, người đó bảo tôi không phải cán bộ đội ở đây, người nông dân bào chúng mày ở đâu cùng một loài tàn ác như nhau, bèn bắt quỳ xuống lấy roi vọt đánh trâu mà quất cho tời bời, sau  một hồi kể tội, mới cho đi khỏi!
Trường hợp trả thù đội Cải cách rất phổ biến, vì cái sai ở đâu cũng do chuyện đặt ra để  để cáo gian mà cướp Của giết Người!
Không phải địa chủ nào cũng tốt lành, cần phải cải cách, nhưng không thể dùng cách đấu tố dã man hơn loài cầm thú  để xây dựng Chính quyền tàn bạo..
Sau cải cách  khung cảnh nông thôn rất tiêu điều, hàng rào các vườn tược đều bị phá., vườn tược nhà cửa địa chu bi chia ra từng mảnh cấp cho bần cố nông có công đấu tố.  Cac mối Liên hệ giữa Cha mẹ, bà con, anh em, xóm làng đều bị thương tổn, xé nát..
Đang khi  chuẩn bị cải cách thì bầu khí Hận thù cao ngất, khi đấu tố xong thì cảnh tang tóc tiêu điều bao phủ thôn xóm, tuy có được một số quả thực, ( Chiến lợi phẩm tịch thu được từ Địa chủ ) nhưng lương tâm một số bần cố nông cũng như nhân dân  hết sức xao xuyến, Bần cố nông không ngờ hành động cáo gian  của mình đã đem lại hậu quả tang tóc kinh hoàng.
Trước những tội tày trời từ Nam Quan, qua sau hồi ( nhà ) Phủ Chủ tịch Hồ chí Minh đến cửa Tùng ( tức Bến Hải nơi vĩ tuyến chia đôi thuộc Hiệp Định Genève năm 1954 ) đều như thế, cái sai này là do chính sách của đảng, đảng CSVN không thể lấp liếm được. Thế mà đảng cho Võ Nguyên Giáp đọc một Diễn Văn dài, lấy Thành quả cách mạng ngày trước để che lấp tội ác trong CCRĐ hiện nay, mặt khác đổ lỗi cho cán bộ địa phương làm sai!  Hành động lấp liếm này chứng tỏ  CSVN không thành tâm sửa chữa. Nếu CSVN sửa chữa cho đúng công lý thì cuộc Kách mệnh Vô sản lại bị thất bại ho àn toàn!

II.- PHONG TRÀO NHÂN VĂN GIAI PHẨM 
Phản ứng của những người trí thức và con cái Địa chủ Phú nông
Cuộc cách mạng thành công một phần là do sự đóng góp tích cực mọi lãnh vực của những người trí thức yêu nước, họ thuộc thành phần có ăn học khá giả, thuộc địa chủ phú nông. Trong cải cách, cha anh, bà con, thân thuộc, bạn bè của họ bị cáo gian, bị giết hại, kèm theo sự khốn khổ tang thương của nhân dân do CCRĐ đưa tới.
Theo họ nguyên nhân đưa tới là do đảng CSVN theo đường lối cách mạng Triệt để của Trung Cộng. Trung công cho rằng giai cấp Địa chủ không bao giờ chiụ từ bỏ quyền Tư hữu mà chấp nhận quyền Công hữu,( Tước bỏ quyền Tư hữu và làm ăn tập thể )  nên phải trừ diệt cho tận gốc hết mọi ảnh hưởng trong mọi lãnh vực của giai cấp Địa chủ. Đây là tinh thần Vô sản chuyên chính của Cách mạng triêt để. Trung Cộng cho cuộc cách mạng  vô sản có tính cách Quốc gia như Titô là cách mạng Cải lương, vì trong công cuộc cách mạng những người có liên quan đến địa chủ mà ủng hộ Cách mạng thì được chiếu cố.
Ta hiểu tại sao bà Nguyễn Thị Năm là ngưòi ủng hộ cách mạng rất tích cực, Hồ Chí Minh và bè lũ ăn dầm nằm dề ở nhà bà, đến khi đấu tố cũng vẫn bị giết, do áp lực của Tàu muốn đẩy cuộc cách mạng tận diệt cho hết thành phần tinh hoa của Việt Nam .

Đó là Lý do có Phong trào Nhân văn Giai phẩm. Vào mùa Xuân 1956, Phong trào cho Xuất bản cuốn “ Giai Phẩm Mùa Xuân “, nhưng bị tịch thu không ra mắt được, đến mùa Thu, “ Giai Phẩm Mùa Thu “ và Tờ báo Nhân Văn mới ra mắt được, mục đích là Tố cáo  Chủ nghĩa CS gồm những Thành phần không có con Tim. Đọc bài “ Con Người Khổng lồ “ của Trần Duy thì rõ.  Số là câu chuyện khi nặn nên con Người, Thượng Đế chỉ nặn khối Óc mà quên gắn con Tim vào nên  con Người Khổng lồ xuống đập nát cả thế giới, làm khổ nhân loại. con Người khổng lồ ám chỉ đảng CSVN.
Những người chống đối như Cụ Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Lê Đạt,  . . . mỗi người một chủ đề tấn công những sai trái của đảng CSVN. Còn phía Sinh viên thì có tờ Đất Mới do nhóm Bùi ( ? )  Quang Đoài cũng phù họa vào. Giai phẩm Mùa thu, Tờ Nhân văn và Đất Mới gây ra một phong trào làm náo loạn cả thành phố Hà Nội môt thời gian.
Đó là nguyên nhân CSVN phải chấp nhận phong trào Sửa Sai.

III.- THỰC CHẤT VIỆC SỬA SAI CỦA CSVN
Trong Phong trào Sửa Sai, đảng CSVN cho thiết lập một “ Văn phòng của Đảng “ (  chứ không phải của Chính quyền ) cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm, để tiếp nhận các đơn khiếu nại sửa sai với Đảng!.  Sau một thời gian CSVN nắm hết những thành phần bất mãn chống đối đã tố cáo, bèn tìm cách  tiêu diệt cho hết.  Những người ờ nông thôn mà khiếu nại thì đảng báo cho địa phương tìm cách trù dập. Còn những người trong phong trào Nhân văn Giai phẩm  như Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang,Văn Cao, Lê Đạt, Phùng Quán . . . đều cho đi lao động khổ sai cho đến thần tàn ma dại.     Đó là ý nghĩa của hai chữ Triệt để theo nền Vô sản chuyên chính của Tàu!~
Đảng CSVN gây ra tai họa, nhưng đổ cho cán bộ địa phương sai.  Thực ra không chỉ sai với Địa chủ Phú nông, Trí thức mà với toàn Dân, nhưng rất đúng với đường lối tiêu diệt giai cấp giàu và trí thức của đảng, vì còn họ thì đảng không thể láo khoét để lên ngôi.  Thành phần cán bộ có làm sai thì cũng không thể sửa, vì đảng chỉ đạo thực hiện Kách mệnh vô sản, vì thực tế tang thương xẩy ra dã man quá, nên đảng trốn trách nhiệm, vì nếu sửa thì hóa ra  đảng đánh mất mục tiêu của cách mạng là tiêu diệt cho hết thành phần chống đối để độc trị!     Sửa sai chỉ là một Nhân danh Bịp, mà thực sự là diệt cho hết thành phần chống đối còn sót lại sau CCRĐ để đảng thảnh thơi chuyên chính, độc quyền toàn cõi!

Vậy công tác sửa sai chỉ là thực hiện “ Kách mệnh triệt để “ với chủ trương  «  Diệt lầm hơn bỏ sót «!

IV.- CỤ TRẦN LÊ HỮU SỬA SAI HỔ CHÍ MINH
Cụ Trần Lê Hữu có bà con  với Hồ Chí Minh không rõ là mối liên  hệ nào, Hồ Chí Minh gọi Cụ Hữu bằng cậu, Cụ Hữu cũng gọi Hồ Chí Minh bằng Cụ, Cụ Hữu bảo cụ xưng như thế là vì ông Hồ là Chủ tịch của nước. Trước kia, gia đình Cụ Hữu cũng giúp gia đình Hồ Chí Minh trong cơn khốn khó rất nhiều. Cụ tốt nghiệp Quốc Tử Giám, làm quan về ngành Tư pháp trong chính phủ Nam Triều, Khi Chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ , Cụ về sống ở quê Nam Đàn, Nghệ An.
Cụ bị đấu tố về cái tội Địa chủ, có lẽ không bị quy vào thành phần Ác Ôn, nên khi Sửa Sai, Cụ mới trốn ra Hà nội được. Cụ phải đi bán Báo Tổ Quốc để độ nhật .
Khi từ trên Tàu điện bước xuống, một số anh em sinh viên cũng đi bán sách báo, gặp Cụ già tóc bạc phơ, anh em  chào Cụ: Thưa Cụ, Cụ đi “ mô”  đó ?  Cụ trả lời, Ta đi bàn Tố Quốc đây, muốn bán Tổ Quốc thi đi theo Ta, Ta có chuyện hay lắm, đến nhà Ta kể cho nghe.

Đến chiều anh em đến nhà, Cụ bảo Ta mới đi gặp Lão Hồ về.  Ta đã viết thư cho Lão đã lâu, nhưng mới đây Lão mới gọi cho Ta đến gặp. Ta đến phủ Chủ tịch bị khám xét rất kỹ càng, phải đợi một hồi lâu, Lão mới từ cửa bên nách mò ra ( hành động Cụ Hữu cho là bất chính ) .  Ta chào Lão.  Lão hỏi to: Đồng bào Ta ở nhà có khoẻ không Cậu ?  Cụ nghĩ thầm thằng cha này lại dở trò nhân đạo như chuyện vì Nhân đạo mà làm Cải cách ruộng đất, Lão đã chỉ đạo phá cho tan hoang hết nông thôn, lại còn làm bộ hỏi thăm hỏi dom! 
Sau khi an tọa, Hồ Chí Minh mới hỏi tình hình thôn quê ta ( Nam Đàn ) ra sao?
 Cụ Hữu mới bắt đầu một mạch tố khổ. Thưa Cụ, nếu như trước đây thì cái đầu của tôi không còn trên cổ này để nói chuyện với Cụ, nhờ có Sửa sai mà tôi có dịp này. Tôi phải nói thật lòng để Cụ rõ. Trước đây nhân dân coi Cụ như bậc khai quốc công thần, nhưng sau CCRĐ thì thanh danh Cụ xem ra không còn gì nữa. Những tội ác gây ra cho nhân dân còn gấp bao lần của thời  Tần Thuỷ Hoàng bên Tàu gây ra cho dân Tàu..
Ngày xưa dưới  thời Tần Thủy Hoàng, khi các Nho sĩ có tu tập 5, 3 người ngoài đường thì mới bị giết, còn nay trong đất nước ta ở làng xã nào cũng  lôi nhiều người ra giết mà không có xét xử, chỉ vì bị vu oan.  Các Sách vở cũ ngàn đời của Tổ tiên cũng bi tịch thu hoặc đem ra đốt hết.  Những vụ cáo gian trái luân thường đạo lý làm xé nát đời sống thanh bình của thôn quê tràn lan khắp chốn, mọi nơi đều nhuốm màu tang tóc, cảnh đau thương tràn ngập thôn quê.
Cụ Hữu kể thêm những trường hợp đấu tố sai lầm cụ thể trong từng địa phương trong cái được cao rao là “ Cuộc Kách mệnh long Trời lở Đất “.
Nghe xong, Hồ Chí Minh lấy khăn lau nước mắt, và bảo: “ Những chuyện đau lòng này, Cậu đau một, còn chúng tôi đau mười. Cậu biết không, chén bát sắp trong “ sóng đọi “ cũng khắc nhau, huống chi đồng bào trong xóm làng, vậy chúng ta cùng  nhau lo mà sửa “.
Xem thái độ “ Đưa trâu qua rào “ không chút thành khẩn của Hồ Chí Minh, Cụ Hữu liền cáo từ ra về.
Cụ kết luận, cái tay gian manh đó, xưa nay bao giờ cũng vẫn thế !

C.- CHÍNH SÁCH CSVN ĐỐI VỚI MIỀN NAM

I.- HỌC TẬP CẢI TẠO   
Sau khi ngụy tạo ra cuộc chiến “ sinh Bắc tử Nam “ đem Vũ khí Nga Tàu về Giết hại đồng bào hai miền nhất là thanh niên - thành phần nòng cốt -  để ngầm thực hiện âm mưu tàm thực Việt Nam cho Tàu. Là một con tốt trong bàn cớ quốc tế , VNCH bị hy sinh, ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam bi rơi vào tay CS.
CSVN lại có cơ hội thi hành chính sách Giết Người và Cướp Của dưới hình thức được loa vang là nhân đạo.
  Về cách giết Người đối lập, CSVN cho rằng những Quân Cán Chánh min Nam là Mỹ Ngụy đã phạm tội chết vì phản quốc, nay vì lòng Nhân đạo, đảng CSVN cho được đi học tập cải tạo bằng phương pháp lao động ( khổ sai ). CSVN thôi thúc Các Quân Cán Chính miền Nam chỉ đi học tập một thời gian ngắn, nên mọi người phải hăng hái ra trình diện.
Họ đâu có biết rằng đây là trại tập trung khổ sai, tuy không là miền tuyết băng giá  như  Sibéria bên quê Thầy Liên Xô, nhưng ở Việt Nam thì là nơi rừng thiêng nước độc, để giam hãm con Người trong tình trạng đói rét và bệnh tật thiếu thuốc men để cho chết  lần mòn, còn những kẻ sống sót khi được trở về thì cũng đã bị tàn phế. Càc trại tập trung nào cũng là nơi hiểm địa, với lao tác và với lối cai quản khắc nghiệt của quản giáo, nên khi đã tới đó thì khó có ngày vể hay ít nhất  cũng đã thân tàn ma dại!

II.- VÙNG KINH TẾ MỚI  
Đảng CSVN còn có tên là “ đảng Lao động “, khi nào đảng cũng cao rao “ Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói  “ , nhưng các đảng viên CSVN chỉ lao động lang thang bằng cách bán nước bọt để Bịp!
Bịp ở chỗ đảng đề ra kế hoạch rằng là : nhân dân ở thành thị không được ngồi mát ăn bát vàng mà  ai ai cũng phải “  lao động sản xuất “ để thực hiện công bằng xã hội, đó là nhiệm vụ vinh quang.  Thành phần Quân, Cán, Chính miền Nam được đảng khoan hồng cho đi học tập lao động cải tạo, vợ con ớ nhà không lao động sản xuất ngồi mát ăn bát vàng là bất công, nay cũng phải giao tất cả sản nghiệp như nhà cửa, công ăn việc làm bóc lột ớ thành thị cho đảng quản lý,  đi khai phá rừng hoang mà sống cho vinh quang, không kể dến việc đàn bà trẻ con có khả năng làm được nghề khai hoang và có sống  được hay không. Cứ giao nhà cao cửa rộng cho đảng, đảng cấp cho túp lều tranh ọp oẹp, liêu lao động mà sống lấy cho vinh quang!
Sau một thời gian ở vùng kinh tế mới không sao sống nổi, lần lượt người ta bỏ trốn về thành thị hết, nhưng phải sống lẻn lút vơ vất, không nơi tá túc, có khi phải vào ghé thân nơi các ngôi mộ có xây cất, có tráng cement, vì không có hộ khẩu. Lúc này cán bộ địa phương lại có dịp làm ơn cấp hộ khẩu, khi trước thì tước hộ khẩu để lấy tài sản, nay cấp hộ khẩu để bòn tiền kẻ chết đói. Thế là mục tiêu cướp của đảng đã thêm thắng lợi!.

III.- ĐĂNG KÝ TỴ NẠN
Khi mới giải phóng, Trung Ương CS chuyên chở 16 tấn vàng của VNCH vể miền Bắc chia chác nhau, nghe tin đồn đảng đem cất vào hang Pác Bó, bị Tàu qua chôm mất, không hiểu rõ Thực Hư?.  Còn đối với VC miền Nam sau khi dụ các Quân Cán Chính miền Nam vào tù gọi là Cải tạo, đuổi vợ con đi Vùng Kinh tế mới để lấy tài sản, bèn có thêm vụ cho “ đăng Ký tỵ nạn Chính thức hay Bán chính thức để  thu góp vàng chia nhau.
Những Dinh thự đồ sộ cao sang, nhà Thờ tráng lệ của Nguyễn Tấn Dũng cũng như  đảng viên cao cấp không sao tránh khỏi  có sự đóng góp  của các số vàng Đăng ký tỵ nạn.

D.- THỜI ĐỔI MỚI
Liên Xô cũng như Trung cộng đã thất bại bại nặng nề  trong hai vấn đề lớn: Một là làm ăn tập thể  bị thất bại, khi tước bỏ quyền Tư hữu tức là tước bỏ Tự do của con Người, con Người làm nô lệ cho tiếng kẻng, khi nghe tiếng kẻng báo giờ làm việc thì mọi người ào ra làm, khi  kẻng bãi việc thì dầu động tác còn mới được một  nửa thì củng dừng lại, họ làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm như một tên nô lệ, không có khởi hứng và vô vọng về tương lai, mất cả óc sáng tạo, đời sống mất hết  hoạt tính và ý  nghĩa. Sau khi Liên Xô sụp đổ, người dân ngơ ngác chẳng biết làm gì để sống độc lập, chỉ muốn quay lại làm việc nô lệ như trước cho khỏe!

Khi Mao Trạch Đông làm cách mạng Văn hoá, với cuồng vọng xóa bỏ Lương tâm và Quyền Tư hữu trong Tâm não con Người bị thất bại, luân thường đạo lý xưa tuy đã có phần suy đồi, lại đã phá cho tận gốc, nên rơi vào tính trạng khủng hoảng Văn hoá. Đặng Tiểu Bình thấy nguy quá, bỏ lối “ Hồng hơn Chuyên “, ngầm khôi phục lại Nho giáo, mặt khác đưa ra thuyết Mèo đen Mèo trắng để kích thích sản xuất. Tiếp đến Giang Trạch Dân lại đưa ra “ Kinh tế ba thành phần “ cho các đảng viện CS kinh doanh kinh tế làm giàu, các đảng viên Mèo Đen đua nhau  làm ăn, những đảng viện CS ỷ thế quyền lực, đua nhau Tham nhũng tràn lan, cả nước vùng lên giao tranh lợi, bất kể gây ô nhiệm mội trường và lạm dụng mọi thứ để kiếm nhiều lời.  Những sản phẩm  và Hoa quả nhiễm độc được bán tràn lan khắp thế giới nhất là Việt Nam, nhưng thực phẩm độc này có thể gây bệnh và làm biến đổi gen rất nguy hiểm.
Còn đảng thì lại chạy đua vũ trang để qua mặt Hoa Kỳ, chắc lại dẫm vào lốt Star War của  Liên Xô  xưa.

Cái gọi là Quy hoạch “ Giải phóng mặt bằng “ là Đường lối của CSVN học quan thầy Tàu cộng để phòng chữa cháy. Khi cán bộ cao cấp đỏ đã “ giàu nứt đố đổ vách “, thì phải lo tạo cơ hội cho cán bộ địa phương tham nhũng, để hai bên cùng giàu, cùng nhau bảo vệ chức quyền và tài sản. CSVN đã quên  trước đây nhờ Bịp mà dụ được Nông dân và Công nhân làm đa số, lấy “ Thịt đè người “  để tiêu diệt thành phần giàu có và trí thức, nay đã mở đường cho đàn em tại các địa phương cướp nhà cửa ruộng vườn của nông dân, thành phần đã cưu mang đảng CSVN từ khi còn ẩn nấp trong bưng biền.      Thành phần Công nhân được tôn là lãnh đạo “ Kách mệnh “ ngày nay cũng được đem bán khắp thế giới để thu tiền, nhưng là đem con bỏ chợ cho người ta hành hạ. .
Do bản chất Cướp ở trong tâm can, nên  quan Thầy “ Trâu cày “ Tập Cẩm Bình đang lấy lý do Tham những để diệt “ Trâu Cột “ Giang Trạch Dân. Còn con cờ Nguyễn Bá Thanh của Chư hầu Việt Nam cũng muốn theo chân thầy Tập,nhưng đã bị bệnh phải qua nhờ cựu thù Hoa Kỳ chữa chạy, không biết đến thế kỷ nào thì con cháu Bá Thanh mới ra tay diệt Tham nhũng, việc này xem ra khó thành công, vì lấy “ Tham nhũng cũ đã no “ diệt “ Tham nhũng mới  chưa no “ thì chẳng qua cũng là “ trâu cày dành ăn với trâu cột “!
Chỉ khi nào diệt được nguồn Tham, Sân, Si trong con người CS thì mới mong!

 Khôn quá hóa dại, ngày nay  quay vào phía nào, CSVN cũng gặp kẻ thù, hết Địa chủ, Phú nông, Trí thức tới Công nhân, Nông dân, ngay quan thầy vĩ đại “ Môi hở răng lạnh “ cũng thành kẻ thù luôn, chưa kể là kẻ thù của phong trào Dân chủ đang  trào dâng trên thế giới. Trong khi phong trào “ Tôi muốn biết “ tràn lan, Đỉnh cao trí tuệ cứ ngậm miệng như hến, chẳng biết đàng nào mà chống đỡ, vì mở miệng mắc quai. Thật “ Thiên bất dung gian : Trời chẳng chứa chấp được kẻ gian ác ““

E.- SỰ NGHIỆP CỦA ĐẢNG CSVN:

CHUẨN BỊ BÀN GIAO ĐẤT NƯỚC CHO TÀU CỘNG

Khi Hồ Chí Minh còn sống, Phạm Văn Đồng đã gởi Văn thư nhường lãnh hải cho Tàu cộng.   
Đến thời Nguyễn Văn Linh với bí danh Mười Cúc, cùng đại tướmg  họan lợn Lê Đức Anh,  và Phạm Văn Đồng có biệt danh Đồng vẩu  đã qua Tàu họp Hội Nghị Thành Đô với Giang Trạch Dân để dâng Việt Nam thành một quận Huyện của Tàu vào năm 2020.
CSVN tiếp tục cho Tàu thuê rừng, cho trúng thầu khai thác những vị trí Chiến lược khắp nước để thực hiện âm mưu “ Tĩnh vi dân, động vi binh”.

 Đồng bào trong nước đang phát  động Phong trào “ Chúng ta muốn biết “ để thấy rõ ràng mọi tội ác của CSVN đối với Dân tộc, nhất là những Hiệp ước mà CSVN nhường Đất nhường Biển cho Tàu cộng. Để chuẩn bị cho việc bàn giao Chủ quyền đất nước,những năm gần đây CSVN cho ra những thứ luật rừng để đàn áp, bách hại, triệt hạ những thành phần yêu nước và các Tôn giáo đang vùng lên ngăn cản việc CSVN dâng nước cho Tàu cộng.   
Trong khi Tàu cộng miệng cứ nhai nhải Hoà bình ổn định, nhưng Tay cứ thò ra xâm chiếm mọi thứ, nhất là cho xây những cơ sở những nơi chiếm được để hợp thức hoá chủ quyền, còn CSVN thì lại chủ trương  hợp tác với mọi nước và chỉ phản đối Tàu cộng lấy lệ nhằm mua thời gian cho Tàu Cộng Tàm thực và hợp thức hoá của ăn cướp !
Đây là thời gian khẩn cấp mà nhân dân Việt Nam phải trực diện với Quốc nạn để giữ lại Chủ quyền Đất nước khởi rơi vào tròng Nô lệ của Tàu lần nữa.


G.- NGUỒN GỐC QUỐC NẠN VÀ QUỐC NHỤC
Do sự mù tịt về vị trí của con Người trong Vũ trụ kéo theo quan niệm sai lầm về con Người mà CS gây tai họa cho con Người và Dân tộc.
  
I.- VŨ TRỤ QUAN CỦA VIỆT  ( NHO  )
Chúng ta cũng cần nhắc lại Vũ trụ quan của Tổ tiên để nhận ra Thiên lý: Đó là Thái cực.
Thái cực “Âm Dương “  là nền tảng của Nho giáo, Khi Âm Dương Hoà  thì đạt Đạo Đạo Âm Dương hoà “ hay “ Thái Cực nhi VÔ CỰC “.  
VÔ CỰC là thế giới VÔ ( Hữu sinh ư VÔ ), thuộc nguồn Tâm linh, là nguồn Tĩnh nên Hòa bình, chứ không phải ‘ vô “ đối đãi với “ hữu “ . Khi VÔ CỰC khởi sự phân cực thì thành Thái cực thuộc Thế giới Hiện tượng, là thế giới Động.  Thái cực là Thiên lý, đối với sự sống con Người là Tình Lý. Thái Cực cũng là nguồn sinh sinh hóa của Vũ trư như Time – Space – Continuum của Einstein.
Nên nhớ trong Thế giới Hiện tượng  phải có sự phân cực để có cách biệt như Không gian Thời gian, Lành  Dữ, To Nhỏ, Xa Gần, Tinh vi Vĩ đại, Cao Thấp, Trong Ngoài, Trên Dưới . ..  mới có sự biến hoá, do các cặp đối cực giao thoa thành Lưỡng nhất. Nho gọi là “ Âm Dương tương thôi “ để đạt thế quân bình động mà có sư biến dịch không ngừng, mà tiến bộ : Nước chảy từ cao xuống Thấp, Không khỉ cũng thổi từ nơi áp suất cao xuống thấp, các vật chất hoá hợp với nhau mà sinh sinh hoá hoá để duy trì biến hoá không ngừng giúp cho sự sống loài Người,  nên  con Người  phải nương theo luật “ biến hoá bù trừ “ của thiên nhiên mà sống Hòa với nhau hầu xây dựng Gia đình và Đất nước, chứ không dùng mưu gian mà cướp bóc nhau!

II.- NHÂN SINH QUAN VIỆT  ( NHO )
Chúng tôi đề cập tới Con Người theo tinh thần Nho của Tổ tiên Việt, xin đừng lầm Nho
là của riệng Tàu, Nho của Tàu là Hán Nho bá đạo, còn Nho của Việt là Vương đạo.Vì Nho Vương đạo đã bị Nho Bá đạo vấy bần, nên chúng ta thử phục hoạt lại quan niệm về con Người của Tổ tiên ta xưa đã bị nạn “ Dĩ Cường lăng Nhược “ của Bắc phương và Tây phương mà đánh mất:   Theo Nho thì :
“ Con Người là cái Đức hay Tinh hoa của Trời Đất, là chỗ Giao hòa của Âm Dương , là nơi gặp gỡ của Qủy Thần, là Tú khí  của Ngũ hành: Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức, Âm Dương chi Giao, Qủy Thần chi Hội, Ngũ hành chi Tú khí “.
Ở đây chúng ta chỉ chú ý tới hai câu:
                      Con Người là cái Đức của Trời Đất, cái Đức đó là Nguồn Sống và nguồn Sáng tức là Lòng Nhân ái và Lý công chính từ nguồn Tâm linh.
                      Con Người là nơi hội tụ của Qủy Thần hay Thánh và Qủy luôn kề lưng nhau, phút này là Thánh nhưng giây sau có thể là Qủy, vì vậy nên phải Tu Thân, nghĩa là phải  đi về nguồn Tâm linh, tu luyện  cho có Tình Người và có Công lý để ăn ở Hoà với nhau. Khi vổ ngực là Vô thần, tức là bỏ nguồn Tình và Lý làm Người thì bị rơi vào nếp sống sài lang. Không Tình thì mới ghét mà hãm hại người, không Công lý thì mới áp bức, bóc lột giết người, cướp của, bán nước, vì mục tiêu cuộc sống CS chỉ là dành miếng ăn và chức quyền!
Nên nhớ sứ mạng của con Người là phải tu thân cho có Nhân phẩm để biết cách yêu thương và ăn ở công bằng mà Hòa với nhau mới có Hạnh phúc.  Trên đây là Nhân sinh quan của Nho giáo.

III.- NHÂN SINH VÀ V Ũ TR Ụ QUAN CỦA CS

Con Người CS được Marx định nghĩa: Con Người  là “ con vật Kinh Tế
Con người CS là con Người chỉ biết có Vật chất, họ đã đánh mất phần Tinh hoa của con Người là Tinh thần, nhất là cái Tâm của con Người, họ tự biến mình thành Sài Lang, luôn dơ nắm tay ra dùng bạo lực mà dành miếng ăn, bất kể phương tiện nào có được, kể cả việc vu oan để giết người mà cướp của. CS nhìn những người Giàu có và Trí thức đều là kẻ thù, cần phải tiêu diệt để cướp của chứ không phải là để thực hiện công bằng xã hội, vì quá Tham, S ân, Si chẳng biết công bằng là gì. Những người Cộng sản là loại người có quả Tim khô héo, chỉ biết Hận thù, và Trí óc nông cạn nhưng rất đỗi tàn ác.  Là Nông dân thì “ Học chẳng hay, Cày chẳng biết “, là Công nhân thì cũng là loại thợ hạng bét, hầu hết là những người đi bán “ nước bọt “ về Chủ nghĩa Xảo Hết Chỗ Nói ( XHCN ) để cướp!

Còn Vũ trụ quan của CSDuy vật với Biện chứngMâu thuẩn thống nhất “, vì là  Duy Vật,chỉ biết tôn thờ Vật chất, khước từ cái Tâm, cái Tình người, con người thiếu cái Tâm thì biến thành Sài Lang.  Lại thêm “ mâu thuẩn thống nhất “ nghĩa là trong hai cực, môt cực bị nuốt chửng, nên Cực đoan, nhất định “ chỉ có Ta mà không có Người “, con người trở thành “ Đại gian ác”, chỉ biết cổ võ  Hận thù để diệt Đồng bào và Dân tộc mà Cướp và nhất là để duy trì cái đảng độc tôn.


H.- BỐI CẢNH VÀ ĐỘNG CƠ LÀM " KÁCH MỆNH “ CỦA  CSVN
Chúng ta nên biết, Tây phương đã cống hiến cho nhân loại ba tai họa lớn, đó là Chế độ Nô lê, chế độ Đế quốc Thực dân và Chế độ Cộng sản. Chế độ Cộng sản là con đẻ của Đế quốc Thực dân. Đế quốc Thực dân đã đi chiếm các tiểu nhược quốc trên thế giới, họ đã áp bức bóc lột nhân dân các nước tàn tệ. CS thấy cảnh giàu nghèo trong xã hội quá cách biệt, “ kẻ ăn không hết người lần không ra “,  nên cao rao là  đem lòng Nhân đạo để làm Kách mệnh  xóa đi bất công xã hội bằng cách Tiêu diệt Đế quốc thực dân ở Tây phương và Chế độ gọi là Phong kiến ở Đông phương, ý đồ đó có thể  là Mục tiêu  tốt nhưng phải  với Phương tiện tốt mới được.
Nhưng CS dùng động cơ Hận thù  với  hành động bạo lực làm Phương tiện cách mạng để cào bằng đi tất cả để xây dựng nên chế độ mới gọi là XHCN, rồi tuần tự tiến lên Công sản, tưởng tượng ra trong đó “ mọi người được làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu: các thụ sở nhu, các tận sở năng “,  thực ra  cái  “ Thiên đàng trần gian này “ chỉ là cái “ mồi nhử  “ kẻ ngu dốt.   Cái lối Bịp này chỉ lừa được giai cấp nghèo thiếu hiểu biết, còn đối với người hiểu biết thì đây là một tiền đề quá sai lầm, tất cả chỉ là xảo ngôn, là ảo tưởng, vì với  con người CS  và  Chủ thuyết CS thì  chỉ có khả năng phá hoại mà thôi..

  I.- VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Trời sinh loài người mỗi người một khác, về Thể chất người thì khỏe mạnh, kẻ thì yếu đuối, kẻ thì khuyết tật, về Tinh thần người thì thông minh dĩnh ngộ, người thì xuất sắc về phương diện này, kẻ phương diện khác, thậm chí có người còn ngu đần nữa, nên hàng bao nhiêu tỷ người mà chẳng ai giống ai, ngưòi thì làm việc mỗi giờ thu được hàng trăm hàng ngàn, người thì không kiếm ra được một đồng, trong xã hội có “ số ít giàu nứt đố đổ vách mà  ăn không hết “, còn “ đa số thì lần không ra “, một số lại bị áp bức bóc lột tàn nhẫn, CS  đổ tất cả  những bất công cho các chế đô xã hội, nên mới dùng cái gọi là Tình Hữu ái Giai cấp để  kết lũ kết đoàn thành số đông dùng bạo lực của Hận thù mà cướp Chính quyền, và tước quyền Tư hữu mà bắt làm ăn Tập thể.
CS không nhận ra sự Bất công xã hội phần lớn là do sự khác nhau về Bản chất từng người, loài người không thể giải quyết được, nên Công bằng Xã hội chỉ tương đối mà thôi, tước quyền Tư hữu của con Người là tước mất nhu yếu nền tảng của sự sống, cũng tước luôn Tự do đẩy con người vào tròng Nô lệ, cuộc sống nô lệ là cuộc sống mất hết Nhân phẩm, cuộc sống lâm cơn hấp hối,  trước kia chỉ có một số ít làm nô lệ, đến ngày CS làm Kách mệnh vô sản thì đẩy cả Dân tộc làm tôi đòi Cho CS! 
Vậy Nguyên nhân sai lầm của CS là tại đâu?  Thưa là do bản chất Vô thần của con Người.
  
Trong Xã hội tuy có người Giàu kẻ Nghèo, nhưng đừng quên Tài năng của mỗi người đều là Thiên bẩm cùng mọi tài nguyên thiên nhiên đều là “ quà Biếu không: Free Gift “ của Thượng Đế ( hay Thiên nhiên cũng được ) kể cả mạng sống của mọi con Người, nếu lạm dụng bất cứ thứ nào một cách vô trách nhiệm, đều làm rối loạn trật tự thiên nhiên, đều gây khổ đau cho con Người, đều gây nguy hại chung.

Những kết quả thủ đắc từ việc làm mọi người không hoàn toàn là Tư hữu, vì do vốn Công hữu của Thượng đế mà nên. Trong Thánh kinh có Dụ ngôn Ông chủ giao  cho các các đầy tớ mỗi người một số nén bạc khác nhau và bảo đem về làm lời: Các nén Bạc là Công hữu, nên phần lời do mỗi người làm ra gồm cả Công và Tư hữu.  Thượng đế là ngưồn Yêu thương và Công lý, sao Ngài đã tạo ra loài người  với những nén bạc bất công như vậy, cũng như tạo ra cái thế giới hiện tượng với  sự mất quân bình như gió bão, nước lũ cũng như Giàu Nghèo vì chênh lệch  cao thấp khác nhau.  
Thiển nghĩ  khi sáng tạo Thượng Dế  không những Ngài đã tạo ra vô vàn ( Free Gift ) Của biếu không, mà lại còn tạo ra mọi luật  biến hoá điều hòa trong Vũ trụ để nhân loại không những được sống còn, mà còn để nâng cao nhân phẩm, hầu cho “ Nhân Linh ư vạn vật : con Người linh thiêng hơn vạn vật “, vì con Người có thể thông hội với nguồn Tâm linh là nguồn Sống và nguồn Sáng  Với nguồn Sống con Người biết Lưu tâm tới cuộc sống của nhau, với Chia sẻ con người  mới sống Hoà với nhau được, có sống Hoà với nhau mới Hạnh phúc, Hạnh phúc chỉ tồn tại trong môi trường Hoà Bình, Thượng Đế  là nguồn của Hoà Bình.
Mọi sự đã được Thượng Đế an bài, nên “ Thuận Thiên giả tồn, Nghịch Thiên giả vong: Thuận với  điều Nhân Nghĩa hay Bác ái Công bằng hay Từ bi trí tuệ  thì sống, ngưc lại Tham tàn và Cường bạo là chết “ !
Con Người có toàn quyền Tự do lựa chọn, “ nhưng : Khôn ( quá ) chết, Dại ( quá ) chết. Biết ( một vừa hai phải ) sống “, Con người tự lo liệu mọi sự mà sống theo lẽ Trời Đất, khi sống nên biết : “ Ở Đời Khôn Dại chia đôi : Lẽ Công bằng Phải Người  Phải Ta “ !  Điều này Mẹ tôi đã dạy tôi từ lúc tấm bé, đến nay đã già tôi mới nghiệm ra 1

Để duy trì và nâng cao phẩm cách cũng như tránh tai họa chung, những người Giàu về Vật chất và Tinh thần đều do Free  Gift trong thiên nhiên cùng với  tài năng thiên bẩm nên mới giàu có, nên  phải Tu cho có Từ Tâm để biết Lưu tâm và luyện Minh trí để biết Chia sẻ hầu giúp cho những người bất hạnh trong xã hội cũng có đời sống tương đối xứng với Nhân Phẩm.Nếu những ngưi giàu chiếm hữu một cách bất công, mà cứ để cho đa số kẻ nghèo sống lầm than, thì họ - thành phần đa số -  sẽ không để cho thiểu số sống yên hàn, CS  đã cho nhân loại một bài học làm Người  đắt giá!
Chế độ Nô lệ, Đế quốc thực dân, và mọi Chế độ độc tài, nhất là chế độ CS đều là  những nguyên nhân gây ra cuộc chiến gây tang tóc đổ vỡ, do sự xa rời Bản tính con Người, con người trở nên Bất Nhân và hành động Bất Công, tất cả đều là những chén thuốc đắng cay của Nhân loại, không uống cho cạn thì không dã tật “ Bất Công “  được !

K.- CÁCH THỰC HIỆN  CÔNG BẰNG XÃ HỘI 

Vấn đề quan trọng nhất của các Chế độ Chính trị là việc thực hiện Công bằng Xã hội, nhưng trong Xã hội chỉ có Công bằng Tương đối mà thôi, cho nên vấn đề rất phức tạp và khó khăn. Chúng ta thử xem mấy cách thực hiện Công bằng xã hội sau đây:

  I.- Chế độ Bình sản trong nước Nông nghiệp   
 Bài toán công bằng Xã hội này đã được T tiên chúng ta giải quyết một cách êm đẹp. đó là chế độ Bình sản, nghĩa là lấy Công điền Công thổ để  điều hòa giữa Công hữu và Tư hữu, có mục đích là điều chế giữa quyền Công hữu và Tư hữu để giảm bớt phần nào hố cách biệt Giàu Nghèo và cũng  để giúp  cho ai ai trong nông thôn cũng có Quyền Tự do Được Ăn, không ai có thể dùng miếng Ăn mà ức chế người khác.
 Khi đã có miếng Ăn thì quyền Tự do Được Nói cũng được bảo đảm qua Hương Ước, nhưng ai trên 50 tuổi là được vào Hội  đồng kỳ mục để tham gia vào viêc xây dựng làng xã
Về Công điền Công thổ thì 5 năm được quân phân lại, mỗi người thất thế không có ruộng đất thì được cấp phát một số sào ruộng tự canh tác lấy, thu hoa lợi mà sống, còn những người không tự canh tác được thì cho  “ rong canh “  nghĩa là cho người khác thuê cày  thu  hoa lợi  mà sống. Đó là cách giải quyết nạn Bất công xã hội trong chế độ Nông nghiệp. Tuy là đơn gian nhưng không ai chết đói hay phải ra nằm đường ( homeless ).

  II.- Chế độ Dân chủ trong nước Công nghiệp
Còn trong chế độ Công nghiệp như Hoa kỳ, việc thực thi Công bằng Xã hội được dựa vào Thuế Lũy tiến. Số tiền Thuế này một phần được sung vào Qũy An Sinh Xã hội, được coi như là Công hữu. Số tiền này để giúp cho các gia đình có lợi tức thấp có bảo hiểm y tế, giúp họ có lợi tức để sống hàng ngày có nhà ở và huấn nghiệp để sống tư lập, giúp cho con cái học hành tới nơi tới chốn, giúp cho người già  có nhà ở và có cuộc sống no đủ, đặc biệt  giúp cho thành phần khuyết tật chữa bệnh tật nan y và  ngay cả việc học hành để phát triển khả năng.  Đó lá quyền Tự do được Ăn của mọi người
Còn quyền Tự do Được Nói thì mọi người dân được Tự do Bầu phiếu chọn người Đại diện giúp lo việc mưu phúc lợi chung.

Đó là hai mẫu thực hiện công bằng xã hội của  một xứ Nông nghiệp và xứ Công nghệ.
Nên nhớ trong thế giới Hiện tượng Tương đối chỉ có Công bằng tương đối và Hạnh phúc Tương đối mà thôi, Hạnh phúc Tuyệt đối chỉ có nơi Thế giới Tâm linh vô biên mà thôi, không thể tìm Công bằng Tuyệt đối tưởng tượng như CS.

Tóm lại Quyền “ Được Ăn “ và Quyền “ Được Nói “ là nền tảng tối thiếu của Nhân quyền.

III.-  Chế độ CHXHCNVN
 Còn CS thì hùng hục xoá đi tất cả Thượng tằng kiến trúc và Hạ tằng cơ sở xã hội để mong xây nên xã hội hoàn toàn mới, Xã hội Chủ nghĩa rồi CS, rõ ràng xã hội CS chỉ có trong trí tưởng tượng của người điên, Liên Xô và Đông Âu đã sụp cả mảng, nay còn lại Trung cộng, Việt Công và  CS Bắc Hàn cũng đã để lộ ra hết mọi dạng Tham tàn và Cường bạo, họ đang trực diện cuộc truy bức đến chân tường.
CS đã tước đi quyền Tư hữu của nhân dân - nền tảng của quyền Tư do được Ăn -Tự do Đầu Phiếu để chọn đại biểu thay mình - nền tảng của Quyền được Nói - , kèm theo chính sách Quản lý Hộ khẩu để nô lệ hóa toàn  dân. Đó là cách thực hiện Công bằng Xã hội của CSVN, được cao rao là do lòng Nhân đạo của đảng CSVN! CSVN cao rao là thực hiện Công bằng Xã hội nhưng dã tạo ra một Xã hội đầy rẫy Bất công và còn đang cố dùng lối cường bạo, diệt trừ thành phần yêu nước để duy trì Bất công hầu tiếp tục  Cướp và Giết.!

IV.- Cuộc chiến ngàn đời trên Thế giới
Trên thế giới chúng ta thấy: Cuộc chiến liên miên giữa hai lực lượng Cường và Nhược, mà Cường thường luôn thắng Nhược: “ Le Delicat est toujours vaicu par le Grossier “. Chỉ có ở Việt Nam  thì “ Chí Nhân và Đại Nghĩa”  ( Việt Nhược ) đã nhiều
lần thắng được “ Tham tàn và Cường bạo “  ( Tàu Cường ).
Ngày nay, Cuộc chiến của nhân loại giữa hai lực lượng  “ Bạo động, Độc tài  như Quốc gia Hồi giáo, Trung cộng và hai chư hầu cực đoan Việt Nam và Bắc Hàn “ với  “ các nước Tư do, Dân chủ trên thế giới “ đang đến hồi quyết liệt.
Internet là phương tiện tuyệt hảo để sàng lọc mọi sư Gian tham giả trá mà nêu cao Chính nghĩa tức là nếp sống theo Công lý, hầu mưu sự sống an bình hạnh phúc cho nhân loại. 
Đó là Phương cách dùng “ Phương tiện tốt “ ( Công lý xã hội  ) để đạt “ Cứu cánh tốt “ (  Hạnh phúc cho nhân loại ).   

   L.- TRÁCH NHIỆM CHUNG
  
I.-Về Phía Nhân dân VN
                      1.-Có phải chế độ cũ đã chứa chấp nhiều bất công, nên CS mới có chứng cớ để lừa bịp mà giết người cướp của và bán nước cho kẻ thù của Dân tộc ?.Chúng ta không  nên quên quá khứ này để quên trách nhiệm liên đới của chúng ta.
                      2.- Có phải đa số nhân dân đã trở nên Vô cảm và thiếu tinh thần trách nhiệm Liên đới mới để cho CSVN cướp Quyền cai trị đất nước mà phá tan mọi nên tảng của Quốc gia Dân tộc?
                      3.-Có phải một số Trí thức và một số vị thuộc Tôn giáo xa lánh Chình trị cho là không đáng quan tâm, cứ nghĩ Chính trị là Tà trị, thuộc trách nhiệm của thành phần khác, còn mình lo chuyên nghiệp, là thành phần lớp trên, không dây vào chuyện hạ cấp, đến nỗi khi CS  bách hại cho điêu đứng mà Trí vẫn chưa tỉnh, vì chưa Thức được cái Họa CS, do Vô cảm và thiếu trách nhiệm Liên đới nên mới bị đọa đày!.?
                      4.- Có phải khi tiếp xúc với Văn minh sáng lạng của Tây phương, nhìn lại sự lạc hậu của quê nhà, một số trí thức khinh khi Cha ông cho là quê mùa, nhân dân là lạc hậu, nên đứng trên và ngoài Dân tộc, việc thành phần Văn gia khinh khi thành phần Chất gia  đã đánh  mất tinh thần Đoàn kết Dân tộc  mà gây cảnh phân hoá?
                      5.-Có phải vì chê Gốc Nhân Nghĩa của Vua Hùng là quê mủa lạc hậu, đi học được cái Văn minh Duy Lý, một số đánh mất Tình Đồng bào, cứ khích bác tranh hơn thua với nhau mà quên “Đại  Nghĩa của Dân tộc” nên mãi tan đàn xẻ nghé ?
                      6.- Có phải không quan tâm đến Đại Nghĩa của Dân tộc mà không  thực thi được “ Công lý xã hội, nên mắc đại nạn chỉ  vì thiếu Lòng Nhân ?
                      7.-  Có phải Nguồn gốc sa đoạ của Dân tộc là do đa số  cứ  “ Khôn Độc ( Cá nhân khôn ) dại Đàn ( cả Dân tộc dại ) “ do Thói  “ Tham Dĩa bỏ Mâm “ ? Dĩa là Tư Hữu cá nhân bất xứng,  Mâm là Công hữu tức là quyền Lảm Chủ Đất nước của Dân tộc.

Chúng ta không nên quên quá khứ này để đổ hết trách nhiệm cho CSVN.
Trong khi CSVN phá Nước thì “ Tất cả chúng ta “ ở đâu và đã làm những gì?

II.-Về phía CSVN

Mọi việc tốt xấu trong Xã hội đều do con Người làm ra, vì vậy muốn  hiểu đảng CSVN thì trước tiên phải hiểu con người CSVN.
Con người CS là Vô thần,nghĩa là họ từ chối đời sống Tâm linh tức là Nguồn Sống và Nguồn Sáng. Nguồn Sống là Tình Người, Nguồn Sáng là Công lý hay lẽ sống“ phải Người phải Ta “.  Có Tình Người thì không những yêu cả người tốt và kẻ xấu, ngay cả kẻ thù, lại nhờ có lòng Bao dung mà tha thứ cho nhau. Có Công lý thì hành xử công bẳng đề sống Hoà với nhau. Không có Nhân Tình và Nhân Tính thí hóa ra Sài lang, Giai cấp đấu tranh là hành động của Sài lang.

Theo Marx “ con Người CS là con vật kinh tế “, nên  Tâm và Trí người CS chỉ  biết kiên định lập trường Vô sản, dùng bất cứ phương tiện nào  mà cướp cho được Vật chất.
Chủ nghĩa CS đã hô hào tất cả công nhân ( nước  công nghệ ) và nông dân ( nước Nông nghiệp )  ) trên thế giới hãy đoàn kết lại để “ cướp chính quyền “ và dùng chế độ chuyên chính để bảo vệ  Quyền cai trị nước hầu nắm Quyền hành và chiếm Tư hữu cả nước.

Đảng CSVN không phải là một đảng cướp địa phương mà là một chí nhánh của CS quốc tế để “ Cướp quyền Sống và quyền làm Chủ  của Dân tộc  mình “ .
Đảng CSVN gồm những tay lưu manh và vô học, vốn liếng vỏn vẹn chỉ có một bầu nước bọt để Bịp, nên muốn cướp nước thì phải làm Nô lệ cho ngoại bang để nhờ họ dạy cho  chủ trương đường lối làm Kách mệnh Vô sản.
Đường lối Kách mệnh Vô sản là “ Lợi dung Chiến tranh để làm Kách mệnh “, nên  mới bị kẻ thù truyền kiếp xúi cho ngụy tạo hai cuộc chiến chống “: Thực dân Pháp “ và ‘ “ Chồng Mỹ  Ngụy “ bảo là  để giải phóng Dân tộc . Vì thực hiện hai cuộc chiến tranh đó nên mắc mưu tàm thực của  Tàu cộng mà Cha ông họ đã hơn 4000 năm mà không sao làm nổi.

Qua hai cuộc chiến tranh cũng như các phong trào cải cách, CSVN đã diệt đi phần lớn thành phần tinh hoa của Việt Nam trong mọi lãnh vực, nào các nhà  chính trị Quốc gia, các vị lãnh đạo tinh thần, các tay giỏi của nghề nông và công thương, nào là nướng thành phần thanh niên tinh hoa trong chiến tranh tương tàn, nào là Thượng tằng kiến trúc và Hạ tằng cơ sở của xã hội đều phá cho tân gốc, nhất là phá cho tận gốc nền Văn hoá Tổ tiên, ngày  nay cả Xã hội hầu như chỉ biết vùng lên dùng mối manh lừa  đảo, dậm đạp lên nhau để cho được  “ Cơm no ấm cật , Dâm dật mọi nơi “! .

Khi kết thức Chiến tranh CSVN mắc một số nợ quân trang và quân cụ không trả nổi, lại chẳng biết cai trị nuớc bằng cách nào, nên phải quỳ gối thần phục kẻ thù, nên mới bị   xiết vòng Kim cô vào cổ. Mỗi lần vòng Kim cô xiết thêm một khấc là CSVN phải quý dâng Lãnh thổ và Lãnh hải cho kẻ thù .  Tham vọng của con Ểnh Ương Tàu cộng không ngừng ở đây mà cố tiêu diệt cho hết Nhân Tài Vật Lực của  Việt Nam để chiếm lấy vị trí Chiến lược mà bành trướng ra khắp Thế giới !

 Động Cơ làm Kách mạng của Cộng sản là Hận thù, mà Hận thù là nguồn gốc của mọi sự phá hoại. Vì Hận thù giai cấp Giàu, Trí thức, - thành phần tinh hoa của Dân tộc - nên CSVN làm Kách mạng,với mục tiêu là cướp Chính quyền,  dùng mưu giam vu cáo để Giết Người mà Cướp Của và dùng lối cai trị chuyên chính mà bóc lột và trường trị.

Do làm chuyện Bất chính và cố dấu cho không lộ tung tích Cướp, nên bao giờ CSVN cũng làm việc trong “ Bóng Tối “.  Mỗi đảng viên CS đều có nhiều bí danh, Hồ Chí Minh có hàng chục Bí danh, đảng viên CS cao cấp nào cũng vậy, họp hành đảng thường cũng ban đêm, các phong trào phát động quần chúng đều làm vào ban đêm, đấu tố cũng ban đêm. . .
 Khi làm việc Ban ngày, để khỏi lộ mưu gian, CSVN dùng chủ nghĩa Nhân danh: Đảng CSVN " Nhân danh “ Quốc gia Dân tộc, nhân danh Nhân dân, nhân danh Đống bào, nhân danh Chủ nghĩa Dân chủ Tập trung (  tập trung vào tay vài tên đầu sọ của đảng ), với nhân danh Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, nhân danh Truyền thống Văn hoá Dân tộc, nhân danh Chính nghĩa Quốc gia, nhân danh Hoà bình nhân loại, nhân danh Đỉnh cao trí tuệ, nhân danh Lương tâm Nhân loại, nhân danh Văn minh nhân loại,nhân danh Tiến bộ,  nhân danh Quản lý Tài sản nhân dân . . ., trong thế giới có  bao nhiêu điều tốt đẹp thì CSVN có bấy nhiêu Nhân danh để làm việc cướp của hại người  !

Thực chất CSVN là đảng  “ Khủng bố nham hiểm “,giết Người man r  “, “ cướp của trắng trợn “ và “ Bán nước lén lút “  cho kẻ thù truyền kiếp
Đảng CSVN chẳng khác nào Lũ chuột đồng, Loài Ốc sên và Siêu vi: Ban ngày Chuột đồng ẩn nấp trong hang, Ốc sên trốn vào bụi rậm. Đêm tối chuột đồng ùa ra phá lúa của nông dân, Ốc sên tủa ra phá hoại hoa màu trong vườn tược. Còn Siêu vi thì bám vào khắp tế bào của các cơ quan trong cơ thể con người mà gây bệnh.   CSVN bám vào Chính quyền để Cướp cũng như siêu vi bám vào tế bào của con người để gây bệnh.  
Rõ là CSVN nhân danh đủ “ mọi thứ tốt lành  “ để làm “ chuyện cực xấu “ cho con Người và Dân tộc.

 Qua 70 năm CSVN đã giết bao nhiêu người bằng mọi thứ gian ác trong thời bình cũng như trong chiến tranh, cướp bao nhiêu tài sản của các tôn giáo, của Đồng bào, từ Địa chủ, Phú nông, các Trí thức cho đến cả Nông Dân và Công nhân ?   
                      Có phải CSVN xung phong làm Nô lệ Liên Xô và Tàu cộng, âm thầm dâng nước cho Tàu Cộng để dành Độc lập cho Dân tộc???
                      Có phải CSVN tước đoạt quyền Tư hữu và dùng chuồng Quản lý Hộ khẩu để dành quyền  Tự do cho Nhân dân??? 
                      Có phải Nhân dân Việt Nam có Hạnh phúc với cái giá mất Quyền làm Người và mất Quyền làm Chủ Đất nước do CSVN rước Giặc vào nhà mà gây ra ???

Con Người CS tự vỗ ngực là con Người Vô Thần. Thần thì Linh, Linh nghĩa là  hiển hiện nhiều nơi được cùng một lúc ( ubiquitous ) , đó là nguồn Sống và nguồn Sáng. Chối bỏ Thần linh thì mất nguồn Sống và nguốn Sáng, theo Văn hoá Việt Nguồn Sống là lòng Nhân ái, nguồn Sáng là Lý Công chính hay Công lý.
Có lòng Nhân ái thì biết Kính trọng và Yêu thương mọi người, vì mọi người đều là Tinh hoa của Trời Đất, lại thêm có lòng Bao dung biết chấp nhất nhau, tha thứ cho nhau mà ăn ở Hòa với nhau. Phật giáo thì có Từ bi, Trí tuệ và Hỷ xả, nên cũng có Bản chất Hòa để sống với nhau.
Những người CS cho thứ Văn hoá Nho giáo và Phật giáo là quê mùa, là lạc hậu. Còn  Kitô giáo thì có Bác ái, Công bằng và Tha thứ 70 lần 7, nên cũng là nguồn của Hoà bình. Bản chất của CS là Chiến tranh, cho các Tôn giáo là thuốc phiện vì chỉ lo việc « đời Sau « , mà quên cảnh áp bức bóc lột  và đói khổ của đa số nhân dân «  đời Nay « .

Còn CSVN lo việc đời nay cho nhân dân bằng cách tước bỏ quyền Tư hữu của con Người.      Quyền Tư hữu có được chính là nhờ vào Thiên bẩm, nên mỗi người mới tạo ra được  nhu yếu  để mỗi người có quyền Được Ăn và Được Nói, còn phần khác phụ thuộc vào Tương quan xã hội nên bị hạn chế để giúp cho trật tự xã hội được ổn định bằng cách  điều hòa gữa Công và Tư  hữu để cho ai ai cũng có đời sống tương đối xứng hợp với Nhân phẩm .  
CSVN tước bỏ quyền Tư hữu là tước bỏ Nhân phẩm của con Người.
CSVN còn  bắt nhân dân làm ăn Tập thể tức là tước bỏ quyền Làm việc của cá nhân với nỗ lực và sáng kiến riêng, nên là tước bỏ mất quyền sống Tự do của con Người.  Con Người có được «  Tự do Làm việc «  mới có sáng kiến, có sáng kiến tạo ra nhu cầu phục vụ cho đời sống vật chất, kết quả của việc Làm cũng tạo ra nguồn vui cho tinh thần, nên cuộc sống mới có ý nghĩa.   CS lấy thi đua làm động cơ tiến bộ để đạt thành tích tốt, những thành tích của các đội thi đua đều đạt 99.99999 % để dâng Đảng, tinh thần «  Thi đua « này đã bị «  Thua đi «   vì đảng Bịp ưa thứ báo cáo Láo để tiếp tục Bịp!  
Lao động tập thể đánh mất động lực làm việc, cũng làm giáng cấp phẩm giá con Người !

Nan đề Chính của xã hội là nạn Bất công, là Hố Giàu Nghèo  quá cách biệt, nếu không biết điều chỉnh để cho tầng lớp đa số bị nạn Bất công mà đời sống quá cơ cực vì quá nghèo nàn thì xã hội sẽ mắc nạn, CS là một ví dụ !

Qua trên, chúng ta thấy vì Vô thần mà CSVN trở nên Bất Nhân, vì Bất Nhân nên không kiềm chế được Lòng Tham, do Không có đổ mồ hôi sôi nước mắt, chỉ Bịp mà Giàu to, nên phải dùng Mưu gian hãm hại giết Người mà Cướp của bằng vốn nước Bọt. Khi Giàu lại phải cố Bịp mà bảo vệ Quyền để có thêm Lợi, CSVN trở nên ngày càng Sân Si, nên đã dùng tất cả những hành động gian ác mờ ám để bách hại những người yêu nước, ngay cả việc bán Nước để bảo vệ đảng Cướp !.      
Vậy Vô thần đồng nghĩa với Tham, Sân, Si: nguồn gốc của mọi tội ác !


M- NHỮNG CÂU HỎI MUỐN ĐƯỢC TRẢ LỜI   

  Qua my câu hỏi của Phong trào:
* Tôi muốn biết
* Chúng tôi muốn biết
* Chúng tôi cần biết

* Chúng ta có quyền được biết gì đây?

Thưa:
                      1.- Đàng CSVN đã có liên hệ nào với Chế độ C HCNVN, với Dân tộc Việt Nam ? Tại sao?
                      2.- Đảng CSVN đã làm gì cho Dân tộc Việt Nam qua các cái gọi “ Kách mệnh Vô sản chuyên chính “ với  mọi Phong trào gọi là cải cách Xã hội ?

                      3.- Có phải Hội Nghị Thành Độ là nơi và dịp đảng CSVN đã dâng nước cho Tàu cộng” để trả công Tàu cộng bày cho con đường  giết Người, cướp Của ưu việt ?
                      4.-Các Hiệp định vể Lãnh thổ và Lãnh hải giữa Tàu công và Việt Cộng đã ký kết với nhau có những nội dung nào ?

                      5.- Tất cả những việc trên của CSVN có phải là việc quang minh chính đại không ? Tại sao phải làm lén, tại sao không đưa ra ánh sáng, mà cứ để cho Ban Tuyên giáo tiếp tục bán nước bọt lừa đảng viên để bảo vệ đảng Cướp?    
Tại sao lại có tên Tổng Bí thư của một đảng Cướp ngồi chồm hổm lên ba ngành mà sai sử Chính quyền ?
                      6.- Đã tự xưng là chế độ Dân chủ, sao việc quan trọng nào đảng cũng nấp sau lưng chính quyền mà làm lén, mà qua mặt Quốc hội và Nhân dân ?  Quốc hội của CHXHCN là thứ gì?

                      7.- Đa số trong 56 chủng tộc ở Trung hoa đều thuộc chủng Việt, họ có cùng Văn hoá Vương đạo, đều là anh em với Dân tộc chúng ta, chỉ có các chính quyền Tàu từ đời Hiên Viên Hoàng Đế tới nay, đều sống theo lối bạo động của Hán Nho bá đạo, hầu hết đều luôn luôn tìm cách Tàm thực nước ta. Vậy Trung công thời nay là gì đối vối Dân tộc chúng ta ?  Vì sao mà Việt cộng lại đem thân làm nô lệ cho Trung cộng gần thế kỷ nay để hãm hại Đồng bào chúng ta ?
Khi mỗi người chúng ta trả lời xong những câu hỏi trên thì chúng ta có cái nhìn rõ về CSVN. 
Chúng ta phải có Viêc làm kế tiếp làm sao đ:

                      1.- Đuổi mọi  đảng viên  CSVN khỏi chính quyền các cấp ?
                      2.- CSVN không được quyền đụng vào Tiền bạc thuế của Nhân dân ?
                      3.- Đảng CSVN phải trả lại mọi cơ sở đảng đã chiếm đoạt từ Trung ương đến địa phương cho nhân dân.

Tóm lại :

              CSVN = VÔ THẦN GIAN THAMKHỦNG BỐGIẾT NGƯỞI
                                                  CƯỚP CỦABÁN NƯỚC.

N- LỐI THOÁT CỦA  CSVN
Ngày nay quay vào đâu CSVN cũng không thể tìm được một nẻo Sinh mà toàn cửa Tử, do chính ác m Tâm của họ tạo ra.
Để nhẹ tội Đại phản quốc, đảng CSVN phải Bạch hoá tất cả những văn kiện đã ký kết với đảng CS Tàu để thoát vòng Nô lệ, do họ tự nguyện làm tôi đòi cho kẻ thù truyền kiếp.

CSVN cũng đã lần lượt không những biến mình thành «  kẻ thù của mọi thành phần trong Dân tộc » , mà còn với Quan thầy «  môi hở răng lạnh «.   VC và Tàu cộng đang ởm ờ dùng  xảo ngôn  mỹ từ để lừa Nhân dân ta.
Cái trái khoáy là Bần cố nông  làm nô lệ cho địa chủ, Hồ Chí Minh và bè lũ CSVN lãnh đạo Bần cố nông tiêu diệt Giai cấp Địa chủ, trong khi đó Hồ chí Minh và CSVN làm cho nô lệ cho Liên xô và kẻ thù truyền kiếp Bắc phương lại không chống  hai chủ    Liên Xô và Tàu cộng, mà lại giết Đồng bào và phá hoại Quốc gia.     Cái họa của CSVN là ở ch này !
Cửa Sinh duy nhất của đảng CSVN là dẹp «  cái đảng có tư tưởng quá Bất Nhân và hành động đại Bất công «  , thành tâm trở về với Chính nghĩa của Dân tộc, cùng Nhân dân xây dựng chế độ Dân chủ,đem Công lý vào đời sống xã hội để mưu phúc lợi cho toàn dân.
Việc đầu tiên là CSVN phải thả tất cả các Tù nhân Lương tâm từ Lm Nguyễn Văn Lý tới các Tù nhân mới bị bắt giam . Việc thả tù nhân lương tâm nhỏ giọt như Ls Cù Huy Hà Vũ, nhà Báo Điếu Cày, rồi trục xuất ra ngoại quốc ( để từ chối Nhân quyền )   tưởng là đem Hổ ra khỏi rừng để mong duy trì chế độ man rợ, đó chỉ là thứ khôn vặt vô bổ, vì trong thời đại toàn cầu hóa với internet, thế giới đã trở thành một cái làng, việc liên lạc vời nhau rất nhanh chóng và dễ dàng,  việc tống khứ không những vô bổ,  mà lại  trở nên nguy hiểm hơn cho CSVN, nếu cứ giam họ trong nước thì lại un đúc chí khí đấu tranh cho Ông Hải cũng như thành phần yêu nước, đàng nào CSVN cũng lâm nguy, chỉ có cái khôn dài là CSVN quay lại với Dân tộc thì mới mong có thể tìm ra được cửa Sinh mà thôi.
Nếu không, những tên đầu sọ CSVN sẽ phải sớm học lại bài học Vua Lê Chiêu Thống !

Thiển nghĩ việc CSVN bắt giam những người yêu nước làm Tù nhân lương tâm là phạm Nhân quyền, việc Hoa Kỳ chấp nhận Tù nhân lương tâm để đổi chác với CSVN có trở thành tiền Lệ cho CSVN tiếp tục bắt giam Tủ nhân lương tâm dài dài để kéo dài thời gian độc trị hay không ?  CSVN cứ bắt người yêu nước để phạm Nhân quyền, rồi thả Tù nhân lương tâm để cải thiện Nhân quyền, nếu không tìm cách chấm dứt cái cảnh  « rắn cắn đuôi « này thì đến bao giờ mới thoát Quốc nạn ?


O- GÁNH NẶNG ĐƯỜNG XA   
                      1.- Sao cả đại khối gần 90 triệu Đồng bào mà để cho chừng 3 triệu CSVN đè đầu cưỡi cổ gần thế kỷ, gây ra bao nhiêu là Quốc nạn và Quốc nhục cho Dân tộc ?
 Trách nhiệm cứu nước thuộc về những Ai đây ?

                      2.- Để loại trừ CSVN ra khỏi đại khối Dân tộc, thiển nghĩ chúng ta không nên có chủ trương cực đoan nhằm tiêu diệt cho hết con người CSVN, mà một mặt mọi người phải cùng nhau Canh tân đời sống để nêu cao Chính nghĩa Quốc gia, đem Công lý vào Xã hội, mặt khác phải loại trừ cho được «  tư tưởng và hành động Tham tàn Cường bạo của CSVN « , có thế mới xây dựng lại đất nước hữu hiệu được.

 Chúng ta không có lựa chọn nào khác, nếu không cùng nhau vùng lên, thì không bao giờ vực dậy được nữa !  

Trên đây là một số điều chúng tôi «  nghe thấy «  mà biết được về cái gọi « Đỉnh cao Trí tuệ và Lương tâm Nhân loại «  của đảng CSVN « , xin được góp chút phần riêng.
Trân trọng,

Nguyễn Quang

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Xin tham khảo thêm những bài sau:
                      A.- Tang chứng  Bán nước của CSVN : Bài I & II
                      B.-  Tang chứng bách hại  con Người và phá hoại Đất nước của CSVN :
Các Bài : III, IV, V. VI.
                      C.- CS Đệ Tam diệt CS Đệ Tứ  ( một trong chính sách diệt nhân tài để độc trị )


 A.-   TANG CHỨNG BÁN NƯỚC CỦA ĐẢNG CSVN

I.- LÝ BẰNG TIẾT LỘ  HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ NĂM 1990

 


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Hội nghị Thành Đô ngày 3-4/9/1990 là bước ngoặt của quan hệ Trung-Việt... Hai bên ký kết "Kỷ yếu hội nghị" đồng thuận bình thường hóa quan hệ song phương. Đảng cộng sản Việt Nam không tiết lộ và cũng không công bố cho toàn nhân dân Việt Nam biết cuộc đàm phán bí mật, một sự kiện lịch sử quan trọng này. Ngày 5/11/1991, Đỗ Mười Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Võ Văn Kiệt Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm Trung Quốc. Ngày 7/11/1991, hiệp định mậu dịch Trung-Việt và hiệp định tạm thời về việc xử lý công việc biên giới hai nước đã được ký tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán Bắc Kinh (钓鱼台国宾馆).

Một phần tư liệu về Hội nghị bí mật Thành Đô 1990, được tiết lộ bởi "Lý Bằng Nhật ký ngoại sự" (鹏外事日记 ) và "Hợp tác phát triển Hòa Bình" (和平发展合作), ngoài ra tác giả công bố hơn 230 bức ảnh phụ trang, phần lớn đã được công bố tại Trung Quốc. Nguồn: Công bố bởi Nhà xuất bản Tân Hoa Xã.


Cuốn
Hòa Binh Phát Triển Hợp Tàc
Lý Bằng Ngoại Sự Nhật Ký

Chúng tôi xin tóm lược một luồng thông tin giới thiệu tới độc giả như để tham khảo những tài liệu sau này về Hội Nghị Thành Đô 1990:

Lý Bằng (Li Peng) viết hai cuốn Hồi ký "Nhật ký ngoại sự", và "Hòa Bình phát triển hợp tác", đó là những cuốn sách nhật ký chú trọng phần hoạt động đối ngoại của Lý Bằng đã từng là Phó Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Thường vụ (NPC).

Bài này trích trong cuốn "Nhật ký ngoại sự" và "Hòa bình phát triển hợp tác" của tác giả Lý Bằng. NXB Tân Hoa xã xuất bản. Nguồn: people.com.cn. [1]


Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư. (3) Phạm Văn Đồng, (4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân), (5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), (6) Lý Bằng, (7) Đỗ Mười, (9) Hồng Hà (bìa phải) và Đinh Nho Liêm. Ảnh chụp tại Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)

Hội nghị vừa kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam: "Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc!" [2] 

Lý Bằng "Nhật ký ngoại sự" (外事日)  ghi lại quá trình bình thường hóa quan hệ Trung-Việt như sau:

Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt đụng đáy hết thuốc chữa. Tháng 12 năm 1986, thời đó Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đương quyền, tình hình quốc tế thay đổi, đặc biệt là ở Đông Âu, Liên Xô bị tan rã. Nguyễn Văn Linh tìm kiếm chính sách, điều chỉnh lại bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc-Việt Nam.

Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ý hội nghị bí mật vào ngày 03 - 04 tháng 9 năm 1990. Nguyễn Văn Linh và Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười chấp nhận đàm phán với các nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên. 

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 12 năm 1986. Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời vào tháng 7. Nguyễn Văn Linh được đắc cử Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, tại Đại hội 6 đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 8. 

Việt Nam tuyên bố "Rút toàn bộ quân đội của Việt Nam ra khỏi Campuchia". Lần này, tạo ra các điều kiện để giải quyết "trơn tru" cho mọi thuận lợi của vấn đề Campuchia, đồng thời làm "sạch" các chướng ngại bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Thứ Tư, ngày 6 tháng 6. 

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, hẹn gặp Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy (Zhang Dewei) [3] tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn (Văn Linh), hy vọng cho một lần đầu, thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được đàm phán tại Trung Quốc.

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8. 

Giới thiệu chuyến viếng thăm nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại Trung Quốc, gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mục đích giải tỏa những vấn đề hai nước, hai đảng..., tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông cho biết hoàn toàn tán thành.

Thứ Hai, ngày 27 tháng 8.
Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quan, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Theo quan điểm của Thế vận hội Châu Á (Asian Games) sắp tới tổ chức tại Bắc Kinh, nhưng cuộc họp này liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ song phương Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.

Thứ Năm, ngày 30 tháng 8.
Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đã đi đến Thành Đô để đàm phán nội bộ với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có ban hành lời mời phía Việt Nam. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào.

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 9.
15 giờ 30, tôi lên chiếc máy bay chuyên cơ, cất cánh từ vùng ngoại ô sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 00 đến sân bay Thành Đô. Chúng tôi di chuyển bằng ô-tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛), Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang chờ đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc bay chuyên cơ đến Thành Đô vào lúc 08 giờ 30 tối, chậm hơn tôi nửa giờ sau. Đến 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai.

Thành Đô, thứ Hai, ngày 03 tháng 9. 

Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam.

Khoảng 14 giờ 00, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng cùng đến Kim Ngưu tân quán Thành Đô (成都宾馆金牛) [4]. Giang Trạch Dân và tôi chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, mặc veston cà phê, phong thái học giả. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười mái tóc bạc trắng cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc.


Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)

Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu, Nguyễn Văn Linh lần đầu tiên thực hiện một bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn bày tỏ giải quyết các vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt, đồng thời đàm phán việc thành lập Hội đồng tối cao của Campuchia là một phần ưu tiên, không nên loại trừ bất kỳ bên nào, không thể bày tỏ sự miễn cưỡng để can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ chỉ muốn bày tỏ thái độ tuyên bố về nguyên tắc, trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ 00, sau 08 giờ 30 mới bắt đầu mở tiệc buổi tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh.

Thứ Ba, ngày 04 tháng 9. 

Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi đến sự đồng thuận một cách khá thỏa đáng, cùng quyết định soạn thảo một bản "Kỷ yếu hội nghị". 

14 giờ 30, trong hai bên Trung-Việt tổ chức một buổi lễ ký kết tại khách sạn trên tầng số 1 Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt đồng ký do Tổng bí thư và Thủ tướng Chính phủ tương ứng. Đây là một bước ngoặc lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân đọc câu thơ của Lỗ Tấn "Phong ba đã trôi, mỗi tình anh em vẫn còn, gặp nhau lại vui, bỏ qua hết thẩy hận thù" (Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu) tặng cho các đồng chí Việt Nam. Về vấn đề này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra hài lòng.

16:00, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 như vậy đã đến nơi.

Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 6 năm 1991.

Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được đắc cử Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Những giai điệu tổng thể của Đại hội 7, Đảng cộng sản Việt Nam, nhấn mạnh kiên trì giáo lý chủ nghĩa xã hội, tham gia vào các cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội 7 có lợi cho việc cải thiện quan hệ song phương Trung-Việt.

Bắc Kinh thứ ba, ngày 30 tháng 7.

Buổi chiều, tôi đã gặp gỡ các đại diện đặc biệt của Lê Đức Anh của Ủy ban Trung ương Việt Nam và Hồng Hà. Họ yêu cầu mở cuộc họp cấp cao Trung-Việt tổ chức tại Việt Nam. Tôi cho rằng, để nhân dân hai nước có sự chuẩn bị trước, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc đáp ứng, gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, như cuộc họp cấp cao, phía Trung Quốc cho rằng không có vấn đề về nguyên tắc. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ trả lời chính thức với phía Việt Nam. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam, theo nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, cả hai đối tác thông qua tham khảo ý kiến​​ và giải quyết. Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực về thương mại, bưu chính, vận chuyển, thanh toán ngân hàng, khôi phục giao thông đường bộ.

Thứ Ba, 17 giờ 00, ngày 05 tháng 11

Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đã đã tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ Đường Nhân dân. 

Tiếp đó, chúng tôi tổ chức tiến hành cuộc đàm phán. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang cho biết, sau khi quan hệ song phương một thời quanh co, nay đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam có thể ngồi lại với nhau để tiến hành cuộc đàm phán cấp cao mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một kết thúc của các cuộc đàm phán trong quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, sẽ có tác động sâu sắc đến sự phát triển của quan hệ song phương. Đỗ Mười nói rằng, bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực và trên thế giới. Tiếp đó, tổ chức bữa tiệc.

Thứ Tư, ngày 06 tháng 11.
Buổi chiều, tôi đàm phán với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, bầu không khí rất tốt. Đầu tiên tôi nêu ra rằng Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười đã tiến hành đàm phán khả quan, đã trao đổi đầy đủ quan điểm. Về vấn đề Đài Loan, thái độ Võ Văn Kiệt thể hiện rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về vay nợ, biên giới, người dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam vừa đề xuất, tôi đã hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực. 


Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán (钓鱼台国宾馆)

Thứ Năm, ngày 7 tháng 11. 

Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết và thỏa thuận tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán (钓鱼台国宾馆). Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi du lịch đến Quảng Châu, Thẩm Quyến và đến thăm những nơi khác.



------------------------------------------------------------------------------------------------------------
v
  

II.- GIẢI TRỪ UẨN KHÚC HỌP MẶT THÀNH DÔ

 


Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Gần đây, dân chúng Việt Nam dấy lên Phong trào “Chúng tôi muốn biết” (We Want To Know), đã gây cho nhà cầm quyền CSVN lúng túng. Vì sao họ bị lúng túng khi người dân muốn biết một sự thật của đất nước mình?! Thế rồi giấy thì làm sao gói được lửa! Vì nội dung chính trong cuộc họp mật tại Thành Đô ở tỉnh Tứ Xuyên vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt-Trung cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn chưa được công bố.

Trong thành phần tham dự hội nghị này phía CSVN gồm có: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng; phía Trung cộng gồm có: Tổng bí thư đảng cộng sản Trung cộng Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ viện Trung cộng Lý Bằng.

Đảng và Nhà nước CSVN giấu giếm các thỏa thuận mật tại Thành Đô không cho người dân biết, nhưng hai cuốn hồi ký “Nhật ký ngoại sự”, và “Hòa Bình phát triển hợp tác” của Lý Bằng đã ghi lại đầy đủ cả nội dung và hình ảnh. Lý Bằng giải thích vì sao không hội họp ở Bắc Kinh mà hội đàm ở Thành Đô: “cuộc hội họp đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô”. Và Tân Hoa Xã đã loan tải một thông điệp trọng yếu của phái đoàn Việt Nam: “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc!” Sau đấy Hoàn Cầu Thời Báo cũng tiếp tục đăng tin này, như vậy hai cơ quan ngôn luận chính của Trung cộng đã đăng tin những người lãnh đạo đảng CSVN bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận Việt Nam làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh là điều không thể xem thường?! Phải chăng đây là sự thật, nên cuộc hội đàm tại Hà Nội vào ngày 18-6-2014, Hoàn Cầu Thời Báo lại đăng tin Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng là Dương Khiết Trì đã nhắn nhủ đảng CSVN với lời lẽ trịch thượng: “Thúc giục đứa con hoang đàng trở về nhà”.

Từ đấy, chẳng những lòng dân băn khoăn, lo lắng cho vận nước gian nguy, mà những nhân vật trong hàng ngũ đảng CSVN còn tiềm tàng tình tự dân tộc, còn cảm thấy ngậm ngùi khi tổ quốc lâm nguy, cũng không thể lặng lẽ! Thế nên, vào ngày 20-7-2014, thiếu Tướng Lê Duy Mật, nguyên Phó Tư lệnh-Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang), đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo đảng CSVN, có đoạn viết: "Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó. Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây...

Đến ngày 2-9-2014, gồm có 20 cựu sĩ quan cao cấp Lực lượng Vũ trang Quân Đội Nhân Dân Việt Nam cũng gửi kiến nghị gồm có 4 điểm chính, riêng điểm cuối cùng đã yêu cầu lãnh đạo đảng CSVN giải thích về cuộc họp mật tại Thành Đô:“Cuối cùng, bản kiến nghị cũng lặp lại điều mà trong một vài kiến nghị, góp ý vừa qua cũng đề cập đến là việc công khai về mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Cụ thể là những ký kết, cam kết, thỏa thuận có liên quan lớn đến an ninh, chủ quyền của quốc gia. Một trong những điều cần phải làm sáng tỏ là Hội nghị Thành Đô năm 1990!”.

Tất cả những kiến nghị này, chính quyền CSVN đều làm ngơ hay ngại ngần nên không trả lời công khai trước toàn dân. Thế mà, ngay lời mở đầu Hiến pháp năm 2013 của CSVN, Điều 2 lại/đã lừa lọc ghi rằng:

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 

2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Nhân dân làm chủ ư?! Thế mà vào sáng ngày 15-10-2014, tại hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn, đảng CSVN đã huy động rất đông đảo lực lượng công an/an ninh nhằm ngăn chặn, sách nhiễu những người dân dự kiến sẽ đến trụ sở Quốc hội để trao kiến nghị: “Yêu cầu Quốc hội Việt Nam bạch hóa Hội nghị Thành Đô”?! Ngoài ra, đảng CSVN còn tung tài liệu hướng dẫn các đảng viên, hòng giấu giếm sự thật về cuộc họp cấp cao Việt-Trung tại Thành Đô vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, rằng: “Trong hội đàm Thành Đô, trao đổi không hề có vấn đề phía Trung quốc gây sức ép với ta về nhân sự, không hề có cái gọi là thỏa thuận rằng: Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung quốc, giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020…” Việc lấy thúng úp voi này làm sao giấu giếm được tất cả đảng viên CSVN, khi bí mật đã bật mí?!

Dân tôi được biết các vị lãnh đạo cao cấp Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam hiện nay, như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Trương Tấn Sang, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng... đều có bằng cấp cử nhân, tiến sĩ, chứ không phải như tiến sĩ giấy của Yên Đỗ Nguyễn Khuyến đã viết:

“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
  Cũng gọi ông nghè có kém ai.
.........
Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!”.

Dân tôi không dám nghĩ quí vị là tiến sĩ giấy, mà tiếng nói của quí vị hiện nay rất quan trọng, như người xưa đã nói: “Một lời nói có thể thịnh nước, một lời nói có thể mất nước” (Nhất ngôn nhi khả dĩ hưng bang, nhất ngôn nhi khả dĩ táng bang). Về việc họp mật tại Thành Đô, nếu hai bên cùng thỏa thuận giữ kín những cam kết đã ký kết trong hội nghị. Nhưng phía Trung cộng đã đơn phương tiết lộ nội dung trong cuộc họp mật này. Như thế, theo công pháp quốc tế, phía Trung cộng đã bội ước, khi hai bên cùng thỏa thuận giữ kín những ký kết trong cuộc hội đàm.

Từ đấy, chính quyền Việt Nam hiện nay có quyền kiện Trung Cộng đã đơn phương vi phạm cam kết là đơn phương cho phổ biến tài liệu mật?!. Cũng từ đấy, phía Việt Nam có quyền hủy bỏ những cam kết đã ký kết trong cuộc hội họp mật tại Thành Đô.

Điều kiện thiết yếu là chính quyền Việt Nam có dám kiện Trung cộng và hủy bỏ những cam kết đã ký kết hay không?! Có lẽ chỉ biết cúi đầu với thiên triều, như việc Trung cộng đã/đang cướp biển Đông, mà Philippines đã kiện Trung cộng ra tòa án Quốc tế từ lâu, còn Việt Nam thì vẫn im thin thít vì quy lụy thiên triều?!

Non nước Việt Nam biết bao máu xương vun đắp và gìn giữ mới có hôm nay, vì vậy chúng ta không thể quên lời dặn dò của tiền nhân. Nhà Thái dịch Lý Đông A (1920-1946?) đã nhắn nhủ đồng bào Việt: “Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm. Cho nên tự phần ta nên hiểu: đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ thì tất diệt...”

Từ đấy, gẫm hoàn cảnh Việt Nam sẽ giống như khu tự trị Tân Cương của người Ngô Gia Nhĩ (Uyghgur)?! Khu tự trị Tân Cương, vào năm 1949 thì tỷ lệ người Hán tăng từ dưới 7%, hiện nay đã tăng lên tới 40% người Hán mỗi năm. Theo thống kê dân số năm 2000 thì ở Tân Cương người Ngô Gia Nhĩ là 8.345.622 người (tỷ lệ 45.21%), người Hán 7.489.919 người (tỷ lệ 40.58%), còn lại các sắc dân khác: Hồi, Mông Cổ, Nga... như vậy thử hỏi làm sao giành lại được độc lập?!


Người tiền nhân kế đến là Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân (1904-1949), trong bài thơ: “Cảm Đề Lịch Sử”, ông lo lắng cho quê hương vô cùng thống thiết:

“Ba xứ non sông một giải liền
  Máu đào, xương trắng điểm tô nên
  Cơ trời dù đổi trò tang hải
  Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên
  Có nước, có dân đừng rẻ rúng
  Muốn còn, muốn sống phải đua chen
  Giật mình nhớ chuyện nghìn năm cũ
  Chiêm-Lạp xưa kia vốn chẳng hèn” 

Dân tôi mong mỏi các vị lãnh đạo cao cấp Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam hiện nay, hãy nghiền ngẫm lời dặn dò của hai vị tiền nhân vừa nêu. Và kế đến, thiết tha mời quí vị ngẫm nghĩ hai sự kiện lịch sử có liên quan đến người Tàu, vì“Soi gương để biết hình, xem việc xưa để biết nay” (Minh kính khả dĩ sát hình, vãng cổ khả dĩ tri kim). Một khi đất nước chúng ta “làm một khu tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh”, thì quí vị muốn làm Thái thú cho Tàu để hưởng bổng lộc cũng không ổn được rồi?! Hai mẩu chuyện ấy là:

- Vào năm 1788, Lê Chiêu Thống (1766-1793) cầu viện nhà Thanh, khi quân Thanh đến Thăng Long, vua Lê đã trả thù tàn bạo những ai theo Tây Sơn. Trớ trêu thay! Lê Chiêu Thống là vua nước Nam, nhưng giấy tờ trong nước, đều dùng niên hiệu Càn Long. Mồng 1 Tết năm Kỷ dậu (1789), Nguyễn Huệ cầm quân đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm lược. Lê Chiêu Thống cùng bầy tôi 25 người: Phạm Như Tùng, Lê Hân, Lê Quí Thích, Hoàng Ích Hiểu... chạy theo giặc. Vua tôi nhà Lê bị nhà Thanh bạc đãi. Vua Càng Long ra chỉ dụ ngày mồng 5 tháng 5 năm Kỷ dậu:“Nay truyền lệnh các viên tổng đốc, tuần phủ lập tức lệnh Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống) cùng bọn tùy tùng của y phải cạo đầu, dùng y phục của Thiên triều. Trong tương lai Nguyễn Quang Hiển đi qua Quế Lâm, trực tiếp đến gặp Lê Duy Kỳ trò chuyện, thấy y đã cạo tóc ăn mặc khác lạ, không còn lý nào trở về nước; rồi bảo Hiển sai người trở về nước báo với Nguyễn Huệ để không còn sự nghi ngờ”.

Quí vị thấy đấy, kẻ (Lê Chiêu Thống) theo giặc Tàu thì giặc khinh khi, người (Nguyễn Huệ) diệt giặc thì giặc nể sợ?! Ngày 20 tháng 4 năm Tân hợi (22-5-1791), vua Thanh ra chỉ dụ truyền vua Lê về đất Tuyên Quang, triệu vua Lê cùng các quan vào triều tạ ơn. Đoàn lưu vong tin thật, đến đầy đủ để chuẩn bị nhận chỉ, thì bị giữ ở phòng riêng. Sau đó, vua tôi của Lê Chiêu Thống bị nhà Thanh đày đi các nơi khác nhau; từ đấy đoàn lưu vong tự nhiên bị tan rã. Lê Chiêu Thống nhớ quê hương và ăn năn việc lỡ lầm rước voi cỏng rắn, nên bị bịnh mất ngày 16-10-1793, tại Yên Kinh (Tàu), hưởng dương 28 tuổi.

- Ngậm ngùi thay kẻ hai lòng!: Trong trận ác chiến Hán-Sở ở Bành Thành, quân Hán của Lưu Bang bị đại bại, Đinh Công truy sát vung đao sắp chém đầu Lưu Bang, Lưu Bang than: “Đinh tướng công, Bang với tướng công không có hiềm gì, sao nỡ ra tay sát hại!” Đinh Công nghe vậy tha mạng Lưu Bang, rồi quay ngựa trở về. Khi Lưu Bang dẹp được Tây Sở Bá Vương, gồm thâu thiên hạ, năm 202 TCN lên ngôi lấy đế hiệu là Hán Cao tổ hoàng đế. Đinh Công lặn lội đến Hán triều xin vào yết kiến vua Hán, vì đinh ninh rằng thế nào Hán Cao tổ cũng nhớ ơn xưa, mình sẽ được hậu đãi và trọng dụng. Khi Đinh Công lạy Hán Cao tổ ra mắt xong, thì Lưu Bang bảo: “Sở Bá Vương mất thiên hạ là do thằng tướng ăn ở hai lòng này, bổn phận làm tôi như thế sao được? Phải nghiêm trị để răn đời và hậu thế”. Hán Cao tổ thét võ sĩ trói Đinh Công đem chém và treo đầu giữa chợ.

Cuối cùng, muốn “Giải trừ uẩn khúc họp mật Thành Đô” bây giờ chỉ có hai cách:

- Các vị đang lãnh đạo cao cấp Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam hiện nay, hãy tuyên bố Trung Cộng đã bội ước trong cuộc hội đàm. Nên Việt Nam kiện Trung Cộng đã đơn phương vi phạm cam kết, để hủy bỏ những cam kết đã ký kết trong cuộc hội họp mật tại Thành Đô. Mong mỏi quí vị hãy ngẫm nghĩ?! Đây là dịp tốt để quí vị đứng về phía dân tộc và tổ quốc. Đây là dịp tốt để quí vị được danh thơm muôn thuở, như người xưa đã nói: “Mai cốt bất mai danh” (Xương cốt có thể chôn, nhưng danh tiếng không chôn bao giờ”. 

- Đất nước chúng ta đang bị hiểm họa bởi Trung cộng, nếu đảng CSVN vẫn tiếp tục quy lụy thiên triều (Tàu)! Đồng bào Việt Nam chỉ còn một con đường duy nhất để cứu nguy tổ quốc và dân tộc là đồng lòng giải thể độc đảng CSVN, giành lại quyền làm chủ đất nước, hủy bỏ những hiệp ước hay thỏa thuận giữa đảng CSVN với đảng cộng sản Tàu, mà họ đã âm thầm và đơn phương ký kết không hề hỏi ý kiến của nhân dân Việt Nam.



===============================================================

 

B. TANG CHỨNG HÃM HẠI DÂN TỖC

 

III.- Xin đừng quên! Nửa Thế kỷ trước...

 



Nguyễn Minh Cần (Danlambao) - Có thể bạn đọc sẽ trách tôi: trong dịp đầu năm (1) mà nhắc đến chuyện quá buồn. Xin các bạn lượng thứ cho! Nhưng chuyện này không thể không nói đến! Nó cũng khủng khiếp không kém gì chuyện Tết Mậu Thân (1968). Vậy mà chuyện Tết Mậu Thân chúng ta vẫn phải đành lòng nhắc đến trong dịp Tết cơ mà!

Cần phải nhắc đến các tấn bi kịch, các thảm hoạ dân tộc đã qua và hiện còn đang tiếp diễn dưới nền chuyên chính của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), để mọi người yêu nước thương dân thắp một nén hương cho vong linh biết bao người vô tội đã ngã xuống, để tưởng nhớ đến bao nhiêu người oan ức đã chịu những cực hình man rợ phải ngậm hờn mãi mãi, để nhớ lại biết bao bạo hành của một đảng độc tài đã gây ra trong quá khứ và trong hiện tại, để mọi người hun đúc ý chí đấu tranh cho công cuộc dân chủ hoá đất nước. Âu cũng là việc cần lắm thay!

Hơn nữa, ngày nay tập đoàn cầm quyền đang cố xuyên tạc lịch sử, cố làm mọi cách để dân tộc ta quên đi các tội ác tày trời của họ, nhất là để các thế hệ mới lớn lên không hề hay biết gì đến các tội ác đó và những kẻ tội phạm chính danh!

Chuyện tôi muốn nói đến hôm nay là cuộc CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CCRĐ) đầy kinh hoàng ở miền Bắc Việt Nam, thảm hoạ khủng khiếp chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Cuộc CCRĐ đã thực tế bắt đầu diễn ra từ năm 1953, đúng 50 năm trước đây, và kết thúc năm 1956. Nhưng dư âm và hậu hoạ của nó vẫn còn mãi cho đến tận ngày nay. Hồi đó, CCRĐ chẳng khác nào một trận bão táp ác liệt đổ ập xuống miền Bắc Việt Nam gây ra biết bao tàn phá khủng khiếp, biết bao đảo lộn kinh người, biết bao tang tóc, đau thương cho người dân lương thiện.

Xuất phát từ đâu mà trận bão táp ghê rợn đó đã tràn đến cái xứ sở đau thương này? Số là trong chuyến đi bí mật của ông Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc (hồi cuối năm 1950) đến Moskva (đầu năm 1951), ông đã gặp Stalin và Mao Trạch Đông (lúc đó đang có mặt tại Moskva). Hai ông này đã nhận xét là Đảng Việt Nam coi nhẹ nhiệm vụ phản phong (ý nói hữu khuynh), và chỉ thị phải tiến hành cách mạng phản phong để “bồi dưỡng động lực cách mạng là nông dân lao động”, nói cụ thể là phải làm CCRĐ ở các vùng gọi là “giải phóng”. Sau khi về nước, ông Hồ đã cùng Thường vụ Trung ương (Bộ chính trị sau này) ĐCS trong hai năm trời bí mật và tích cực chuẩn bị tiến hành CCRĐ. Chuẩn bị cả về mặt tư tưởng, cả về mặt chính sách, đường lối, lẫn về mặt tổ chức. Theo sự phân công của Stalin, Trung Quốc sẽ giúp đỡ cho Việt Nam, nên ông Hồ đã mời các đoàn cố vấn Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam – tổng cố vấn là La Quý Ba đồng thời là đại sứ Bắc Kinh tại Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH). Vi Quốc Thanh đứng đầu đoàn cố vấn quân sự, còn đứng đầu đoàn cố vấn CCRĐ là Kiều Hiểu Quang, vốn là phó bí thư tỉnh uỷ Quảng Tây. Đó là chưa kể đủ loại cố vấn khác, như cố vấn chỉnh huấn, cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền… Để chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quân đội, năm 1952, Bộ chính trị (BCT) Trung ương (TW) Đảng thực hiện “cuộc chỉnh huấn” trong Đảng và “cuộc chỉnh quân” trong quân đội, theo đúng mẫu mã “cuộc chỉnh phong” của ĐCS Trung Quốc, chỉ có cái tên hơi khác một chút mà thôi. Chuẩn bị về mặt tổ chức, BCT TW đã thành lập Uỷ ban CCRĐ Trung ương (UBCCRĐTW), gồm có Trường Chinh, Tổng bí thư ĐLĐVN làm chủ nhiệm, hai phó chủ nhiệm là Hoàng Quốc Việt, uỷ viên BCT và Lê Văn Lương, uỷ viên BCT, còn uỷ viên thường trực là Hồ Viết Thắng, uỷ viên TW Đảng. Dưới UBCCRĐTW là các đoàn CCRĐ, dưới các đoàn là các đội CCRĐ. Cả một đạo quân hùng hậu để làm “chiến dịch” đánh phong kiến!

ĐCS coi CCRĐ là “một cuộc cách mạng long trời lở đất”, cho nên cần phải “phóng tay phát động quần chúng” để thực hiện, có nghĩa là phải làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, cho dù có những hành động quá trớn, quá tả cũng không đáng sợ. Nhiều lãnh tụ cộng sản thường nhấn mạnh ĐCS là đảng cách mạng thì nhất định phải làm CCRĐ theo tinh thần “cách mạng”, “cách mạng long trời lở đất”! Họ cao ngạo phê phán các cuộc CCRĐ hoà bình ở nhiều nước là cải lương chủ nghĩa, tư sản và phản cách mạng: vì tại các nước đó, chính quyền hạn định mức ruộng đất tối đa cho điền chủ được có, còn phần thừa thì nhà nước mua lại để chia cho người ít hay không có ruộng đất. Còn khi giải thích cho cán bộ mấy chữ “phóng tay phát động quần chúng” khó hiểu này, ông Hồ đã dùng hình ảnh dễ hiểu sau: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu, rồi thả tay ra thì nó mới thẳng được. Hình như ông cũng khoái cái lối giải thích hóm hỉnh ấy, không nghờ rằng cái tinh thần “quá đi một tí” sau này chính là mối hoạ lớn cho dân! Các đội, các đoàn CCRĐ được tung về nông thôn. Họ tung hoành gần như với quyền hạn không hạn chế, họ cảm thấy mình nắm trong tay quyền sinh quyền sát. Cấp trên đã “phóng tay” cho họ và họ cũng tự “phóng tay”… Vì thế, trong dân gian thường nói “nhất đội, nhì Trời”, và các “anh đội” cũng khoái tai khi nghe như thế! Tôi còn nhớ một lần, thiếu tướng Vương Thừa Vũ, chủ tịch uỷ ban quân quản thành phố Hà Nội, về quê thăm nhà ở làng Tó (Thanh Oai) thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông bị đội CCRĐ bắt giữ cùng với anh cần vụ (lính hầu) và xe ô tô, van xin gì cũng không được thả ra. Về sau do một sự tình cờ, chính quyền Hà Nội biết được mới cho người đến nhận ông về. Đại thần của chế độ mà còn bị như thế huống hồ dân đen!

Trong năm 1952, BCT TW Đảng lao động Việt Nam (ĐLĐVN), tức là ĐCS khoác tên mới từ năm 1951, cho làm thí điểm CCRĐ ở sáu xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Trong lần thí điểm này có một sự kiện “động trời”: toà án CCRĐ xử tử hình bà Nguyễn Thị Năm, tức là Cát Thành Long, người mà thời trước cách mạng đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản… Còn trong Tuần lễ Vàng, gia đình bà đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới. Bà đã hoạt động trong Hội Phụ nữ, lại có con trai đi bộ đội làm trung đoàn trưởng. Thế mà bà đã bị quy là địa chủ cường hào ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử hình, UBCCRĐ TW duyệt y và BCT TW ĐLĐVN cũng chuẩn y! Những người lãnh đạo cộng sản trong BCT và đứng đầu chính phủ đã từng được bà che giấu, nuôi ăn, tặng vàng, nay đang làm Chủ tịch nước, Tổng bí thư, uỷ viên BCT, Thủ tướng, phó thủ tướng đã lạnh lùng chuẩn y một cái án tử hình như vậy! Phát súng đầu tiên của CCRĐ nổ vào đầu một người phụ nữ yêu nước đã từng giúp đỡ cho những người cộng sản! Phát súng đó tự nó đã nói lên nhiều điều về các lãnh tụ cộng sản! Nó báo hiệu trước những tai hoạ khôn lường cho toàn dân tộc!

Năm 1953, thực tế là năm bắt đầu tiến hành CCRĐ, năm ĐCS chuẩn bị toàn bộ đường lối, chính sách và “luật pháp hoá” các chính sách của Đảng bằng quyết nghị của Quốc hội, sắc lệnh và nghị định của Chính phủ, thông tư của các bộ. Dựa trên tài liệu chính thức của ĐCS, tôi xin ghi lại những cái mốc lịch sử đau thương của dân tộc ta trong cuộc CCRĐ đẫm máu và nước mắt này:

- Cuối tháng 01.1953 – hội nghị lần thứ tư của TW ĐLĐVN để thông qua bản Dự thảo cương lĩnh Đảng về chính sách ruộng đất. Tại hội nghị, ông Hồ đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ triệt để giảm tô, tiến tới CCRĐ.

- Đầu tháng 03.1953 – Hội đồng Chính phủ họp thảo luận báo cáo của Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng về mục đích, phương châm, kế hoạch phát động quần chúng. Hội đồng Chính phủ đã thông qua các văn bản về chính sách ruộng đất và phát động quần chúng, tức là đã “luật pháp hoá” nghị quyết của TW Đảng.

- 01 – 05.03.1953 – báo Nhân Dân đăng tải bài “Chỉnh đốn chi bộ” của uỷ viên Bộ chính trị ĐLĐVN, trưởng ban tổ chức TW Lê Văn Lương, người trực tiếp phụ trách cuộc Chỉnh đốn tổ chức trong CCRĐ, và ngày 16.03.1953 – Chính phủ VNDCCH ra thông tư về việc chỉnh đốn chính quyền cấp xã qua việc phát động quần chúng. Đây là những hướng dẫn cho việc gắn liền cuộc Chỉnh đốn tổ chức với CCRĐ, với tinh thần “không dựa vào (thực tế là đánh vào – Người viết) tổ chức cũ mà lập nên tổ chức mới” ở nông thôn!

- 12.04.1953 – Chính phủ VNDCCH ra ba sắc lệnh: 1/ sắc lệnh quy định chính sách ruộng đất, trong đó có việc tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất chia cho nông dân; 2/ sắc lệnh quy định việc thành lập Toà án nhân dân ở những nơi phát động quần chúng; 3/ sắc lệnh quy định việc trừng trị những địa chủ ở những nơi phát động quần chúng tiến hành CCRĐ.

- 01.06.1953 – báo Nhân Dân đăng bài về Chương trình CCRĐ.

- Tháng 06.1953 – ĐLĐVN tổ chức cái gọi là “đợt chỉnh huấn chính trị” để nâng cao lập trường giai cấp cho cán bộ đảng viên trong cuộc đấu tranh CCRĐ.

- 14.11.1953 – hội nghị TW lần thứ năm và Hội nghị toàn quốc của ĐLĐVN để quyết định tiến hành CCRĐ. Ông Hồ đã phát biểu ý kiến tại hội nghị nhấn mạnh phải “phóng tay phát động quần chúng tiến hành CCRĐ”.

- 01–04.12.1953 – kỳ họp thứ ba của Quốc hội khoá 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo “Tình hình trước mắt và nhiệm vụ CCRĐ” và ngày 04.12.1953 – Quốc hội nhất trí thông qua Luật CCRĐ. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh ban hành Luật CCRĐ do Quốc hội thông qua.

Từ đó, bắt đầu các đợt CCRĐ, mà đợt đầu tiến hành ở 47 xã tỉnh Thái Nguyên và 6 xã tỉnh Thanh Hoá, sau đó lan tràn trên khắp miền Bắc, trừ các vùng miền núi. Đợt năm là đợt cuối cùng, phần lớn diễn ra ở các xã đồng bằng Bắc bộ và các vùng bị Pháp chiếm trước đây. May mắn cho đồng bào miền núi, vì ĐLĐVN chủ trương sau khi hoàn thành CCRĐ ở vùng đồng bằng mới làm ở miền núi. Do sự phẫn nộ của quần chúng đã bùng lên dữ dội, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở Quỳnh Lưu, Phát Diệm, nên về sau, TW ĐLĐVN chỉ tiến hành cái gọi là “cải cách dân chủ” ở miền núi, nghĩa là dẹp bỏ phong kiến địa phương (tức là các phía tạo) mà không dùng bạo lực quá mạnh vì sợ dân chúng chạy sang Trung Quốc, Lào… Còn ở huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, vì nằm sát giới tuyến, tiếp giáp Việt Nam Cộng hoà, nên cũng được chiếu cố, nghĩa là dùng bạo lực vừa phải “để không gây ảnh hưởng xấu đến miền Nam”.

- Tháng 09.1956 – hội nghị lần thứ 10 của TW ĐLĐVN kiểm điểm tình hình CCRĐ. Do ảnh hưởng của đại hội lần thứ 20 ĐCS Liên Xô vạch trần những tội ác của Stalin, do sự bất mãn trong dân chúng, cộng thêm sự phản ứng khá mạnh của cán bộ, TW Đảng buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ và chủ trương sửa sai. Tại hội nghị, TW đã thi hành kỷ luật như sau: Trường Chinh mất chức Tổng bí thư, chỉ còn làm uỷ viên BCT, còn Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương mất chức uỷ viên BCT, Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TW ĐLĐVN. Ông Hồ Chí Minh kiêm nhiệm Tổng bí thư, còn Lê Duẩn làm bí thư TW, thường trực BCT.

- 29.10.1956 – mít tinh lớn tại Nhà Hát Nhân dân Hà Nội, uỷ viên BCT đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW ĐLĐVN chính thức công nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ. Nhân đây, xin nói rõ: một vài người viết không đúng là cuộc mít tinh tổ chức tại sân vận động Hàng Đẫy và ông Hồ đã đến dự và khóc trước dân chúng. Hà Nội được giao cho việc tổ chức mít tinh nên tôi biết rõ. Hồi đó, chúng tôi được giải thích: “Bác đến không tiện”, nhưng chúng tôi đều hiểu là ông Hồ muốn đưa ông Giáp ra “chịu trận” thay mình, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước dân chúng.

*

Ở hải ngoại, cho đến nay cũng đã có một số tài liệu nói đến những bạo hành, những tội ác trong CCRĐ, cuốn sách nói về đề tài này khá kỹ ra mắt sớm nhất (1964, bằng tiếng Anh) là cuốn “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” của ông Hoàng Văn Chí. Còn ở trong nước thì đến nay, chưa có một công trình nghiêm túc nào nghiên cứu, chưa ra một tiểu thuyết nào viết riêng về đề tài CCRĐ. Tại sao? Dễ hiểu là sau khi bị bắt buộc phải thừa nhận những sai lầm trong CCRĐ, BCT TW Đảng ra lệnh miệng tuyệt đối cấm không được nói đến đề tài này. Người đầu tiên “vi phạm” tabou “thiêng liêng” đó là nhà văn Hà Minh Tuân – anh đã viết lướt qua rất nhẹ nhàng đến đề tài cấm kỵ đó trong tác phẩm “Vào Đời”. Tức thì Nguyễn Chí Thanh hô hoán lên là “tư tưởng địa chủ ngóc đầu dậy”, và anh bị hành hạ hết nước. Từ đó mọi người ai cũng im re, “lo giữ cái đội nón của mình” (nhóm từ thông dụng hồi đó có nghĩa là giữ đầu mình)… Mãi sau này, chỉ có vài nhà văn rụt rè mon men đến đề tài đó mà thôi. Hy vọng rồi đây sẽ có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước vượt qua nỗi sợ “truyền kiếp”, dám đề cập đến đề tài đau thương này một cách nghiêm túc và toàn diện.

Nếu nói về những tội ác trong CCRĐ, theo tôi, cần nêu bật mấy loại chính sau đây.

Thứ nhất. Tội tàn sát thường dân vô tội – tội ác chống nhân loại. Người nông dân Việt Nam hiền hoà, chất phác đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bỗng dưng ĐCS giáng cho họ một đòn chí mạng. ĐCS nói rằng CCRĐ là một cuộc cách mạng để thực hiện ước mơ muôn đời của nông dân: “người cày có ruộng” – nhưng thực tế thì không phải như vậy, thực tế là nông dân bị đánh đòn chí mạng! Tầng lớp năng nổ, giỏi giang biết làm ăn nhất ở nông thôn thì bị quy là địa chủ, phú nông, thậm chí cường hào ác bá, bị triệt hạ hết đường sinh sống, còn một loạt cán bộ ở nông thôn đã từng chịu đựng gian khổ làm nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiến, sản xuất thì bỗng nhiên bị quy là phản động, gián điệp, Việt gian, v.v… bị trừng trị, nhiều người bị bắn giết vô cùng man rợ. Ngay cả nhiều người trung nông, thậm chí một số bần nông cũng “bị kích lên” làm địa chủ cho đủ cái tỷ lệ quái gở 5% địa chủ (so với dân số thôn xã!) và họ phải cam chịu cái số phận mà ĐCS dành cho địa chủ. Cái tỷ lệ quái gở 5% đó lại kèm thêm những “kết luận” quái đản khác: đã có địa chủ, tất phải có cường hào ác bá! Thế là người dân chịu chết! Biết bao nỗi oan khuất không thể nào kể hết. Cái phương châm “thà sai hơn là bỏ sót”, cộng thêm với việc “thi đua lập thành tích đánh phong kiến” đã gây ra tình trạng “kích thành phần”, “nống thành tích” cố tìm ra nhiều địa chủ, phản động, xử tử nhiều ác bá… để có được bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa vị cao hơn… càng làm cho nỗi khổ đau của người dân tăng lên nhiều gấp bội! Chỉ xin dẫn vài chuyện mà thôi.

Một anh bạn đi làm CCRĐ ở Khu Bốn kể lại. Ở Khu Bốn, hồi đó ai cũng biết danh Chu Văn Biên, bí thư Khu uỷ, và Đặng Thí, phó bí thư khu uỷ, khét tiếng hiếu sát trong CCRĐ, họ đều là trưởng và phó đoàn CCRĐ. Thậm chí trong dân gian lưu truyền bài vè có câu “Giết người nổi tiếng gã Chu Biên”. Anh bạn tôi kể chuyện Đặng Thí ký hai án tử hình trên ghi đông (guidon) xe đạp! Chuyện như sau: một đội tới làm CCRĐ ở một xã nghèo ở Nghệ An, quê hương của ông Hồ Chí Minh và Hồ Viết Thắng, tìm mãi mà không thể quy ai là địa chủ được (những ai đã từng đến tỉnh này đều biết cảnh nghèo chung của dân chúng ở đây). Đặng Thí “đả thông tư tưởng” là cố vấn Trung Quốc dạy rồi phải có 5% địa chủ. Đội sợ trên “đì”, tính ra cả làng từng này hộ, từng ấy nhân khẩu, thôi thì cũng buộc phải kiếm ra năm địa chủ. Tưởng thế là xong, nào ngờ khi báo cáo lại cho Đặng Thí thì… Liếc mắt qua không thấy có danh sách “lên thớt”, bực mình Thí mới xạc cho “anh đội” một trận: “Có địa chủ mà không bắn thằng nào cả à?” và ném cả tập giấy vào mặt đội trưởng. Cuối cùng thì đội cũng lọc ra được “hai địa chủ để bắn” vội chạy lên đoàn báo cáo. Giữa đường gặp Đặng Thí đang đi xe đạp, tay đội trưởng đưa báo cáo và danh sách bắn hai người. Thí còn đang vội, vẫn ngồi trên yên xe, chẳng thèm xem hết nội dung, đặt “đơn đề nghị bắn hai người” lên ghi đông xe đạp, mở vội xà cột (sacoche), rút bút ký toẹt vào. Xong rồi Thí đạp xe đi thẳng.

Một ông bạn làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam đã đi làm CCRĐ kể lại chuyện thương tâm này. Đội mà ông bạn có chân về một làng nghèo ở Thái Bình, không thể nào tìm đâu ra đủ số địa chủ, và cũng không thể nào tìm ra địa chủ ác bá để bắn. Họ lo lắm. Thế là họ đưa một ông chăn vịt vào danh sách bị bắn! Làng nào cũng thế thôi, mấy ông “gột vịt” (ấp trứng nuôi vịt con) chẳng bao giờ được dân làng ưa cả, vì lùa vịt con xơi thóc lúa của dân, thế mà lại hay to mồm cãi lại, gây gổ. Thế là “đủ yếu tố cấu thành tội”, trong đó có tội “bị dân làng ghét cay ghét đắng”. Địa chủ bóc lột thóc của nông dân, vịt cũng ăn cướp thóc của nông dân, vịt không thể bắn được thì chủ nó phải chịu thay! Ai cũng vui vẻ cả. Ông bạn biết là sai nhưng không dám mở miệng khi “cỗ máy nghiền thịt” của Đảng đã khởi động rồi!

Cho đến nay, không ai biết số người bị quy oan, bị tù oan và bị giết oan là bao nhiêu vì ĐCS giấu tịt. Những con số mà nhiều người đưa ra chỉ là ước đoán. Hồi cuối năm 1956, khi tôi được Thành ủy Hà Nội giao cho trách nhiệm sửa sai CCRĐ ở ngoại thành Hà Nội. Vì tính chất quan trọng của việc đó ở thủ đô, nên ông Võ Nguyên Giáp được BCT phân công giúp đỡ việc sửa sai ở Hà Nội. Vì thế, thỉnh thoảng tôi đến nhà ông Giáp làm việc. Đôi khi chúng tôi cũng nói chuyện với nhau về những vấn đề chung. Một hôm tôi hỏi thẳng ông: trong CCRĐ có bao nhiêu người bị oan. Ông Giáp nói hai vạn. Lúc đó tôi không dám hỏi thêm cụ thể hơn – thế thì bao nhiêu người bị chết oan, vì tôi biết là mình đã đụng đến vấn đề cấm kỵ nhất của Đảng. Cho đến nay, tôi không biết con số mà ông Giáp nói với tôi có thật hay không, nhưng hôm đó ông trả lời tôi tức thì, không nghĩ ngợi gì, nên tôi cũng có phần tin. Còn số người bị hành quyết trong CCRĐ và Chỉnh đốn tổ chức thì tôi ước đoán là chừng năm-sáu nghìn người (2). Đó là chưa kể nhiều người bị chết vì các lý do khác, như tự tử trước khi xét xử, chết khi bị tra của hay bị giam cầm ở xã, chết trong tù, người nhà địa chủ chết đói do bị bao vây, v.v… Tại cuộc mít tinh tối 29.10.1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được. Dù thế chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại!

Còn chuyện “sửa sai” thì cũng chỉ là một lối “tung hoả mù” chủ yếu để làm dịu đi phần nào nỗi công phẫn dữ dội của dân chúng, tránh những cuộc bùng nổ bất lợi cho Đảng mà thôi. Chúng tôi đã từng đi làm sửa sai nên biết khá rõ. Có nhiều cái sai không thể nào “sửa” được. Bắn giết người ta, làm què quặt thân thể, làm tổn hại tâm thần người ta (có không ít người bị điên, bị mất trí, bị lẩn thẩn), làm gia đình người ta tan vỡ… thì chỉ có Trời mới sửa được! Ngay cả những việc tưởng chừng không khó sửa lắm, nhưng cũng không thể sửa nổi, chẳng hạn, gia đình bị quy là địa chủ, nhà cửa bị tịch thu chia cho mấy hộ nông dân, khi được xét là quy oan phải trả lại nhà cho người chủ cũ. Nhưng, khi biết là phải trả lại nhà, các ông bà nông dân bèn cạy gạch, cạy cửa, dỡ ngói, rút rui mè, cất giấu hết, phá phách gần như tan nát cả ngôi nhà họ đang ở. Nên cái nhà được trả lại đâu còn nguyên vẹn như trước. Còn các “quả thực” khác khi đã chia rồi thì sửa sai làm sao được! Thóc lúa, nông dân ăn hết, bán hết rồi (hoặc khai như thế), nông cụ bị tiêu tán hết (hoặc khai hư hỏng rồi), thì lấy gì mà trả lại cho người ta. Đó là không nói đến những quan hệ tình cảm đã bị tổn thương, giữa vợ chồng, giữa anh em, giữa họ hàng, giữa thầy trò, giữa hàng xóm, láng giềng thì chẳng làm gì được, ngoài việc khuyên nhủ chung chung. Trong sửa sai chỉ có việc này làm được là trả tự do cho những người bị tù oan. Còn việc khôi phục lại chức vụ cho một số cán bộ đã bị đấu tố cũng đã thực hiện, nhưng cũng không giản đơn vì quan hệ khá phức tạp giữa cán bộ mới với cán bộ cũ.

Nhân thể cũng xin nói thêm, khi hội nghị lần thứ 10 của TW ĐLĐVN hồi tháng 09.1956, TW buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, người ta cũng đổ lỗi một phần cho cấp dưới đã thi hành sai, chứ TW Đảng không nghiêm khắc tự phê phán mình, họ vẫn coi “đường lối của TW về cơ bản là đúng”, chỉ có “việc tổ chức thực hiện không đúng” mà thôi. Họ vẫn khư khư khẳng định: CCRĐ dù có sai lầm “nhưng về cơ bản vẫn giành được thắng lợi lớn”. Điều đó nói lên sự giả dối, nguỵ biện, sự không thực lòng hối hận của họ. Thế thì làm sao mà Đảng sửa sai được?! Còn cái gọi là thi hành kỷ luật với các ông lãnh đạo CCRĐ cũng chỉ là trò hề “giơ cao đánh khẽ” để lừa dối dư luận mà thôi. Trường Chinh mất ghế Tổng bí thư, nhưng lại vẫn là uỷ viên BCT, chuyển sang ngồi ghế Chủ tịch Quốc hội, lại phụ trách công tác tư tưởng, rồi chính ông ta đã cùng Tố Hữu bày ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đàn áp quyết liệt anh chị em trí thức ưu tú, khao khát tự do, làm bao văn nghệ sĩ tài ba bị tù đày, bị đàn áp, bị treo bút trong hàng mấy chục năm trời, đánh một đòn nặng nề vào nền văn học miền Bắc, làm nó bị thui chột trong nhiều thập niên. Hoàng Quốc Việt (một người nổi tiếng “ác liệt nhất” chẳng những trong CCRĐ mà trong nhiều vụ trước nữa, chẳng hạn, vụ H122 xảy ra trong kháng chiến chống Pháp, ông phụ trách xét vụ này, đã bắt giam nhiều cán bộ, phần đông là cán bộ quân đội, và làm chết oan nhiều người), bị đưa ra khỏi BCT thì lại trao chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao là chức vụ nắm quyền sinh quyền sát con người, Lê Văn Lương chịu trách nhiệm về Chỉnh đốn tổ chức đã làm cho nhiều cán bộ đảng viên ở xã bị bắn giết, bị tù đày, phải ra khỏi BCT thì sau này lại được đưa về làm bí thư Thành uỷ Hà Nội, còn Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TW Đảng thì lại cho làm uỷ viên thường trực Uỷ ban Kế hoạch nhà nước! Trái lại, người ngoài Đảng mà dám thẳng thắn phát biểu ý kiến với ĐCS, cho dù nhẹ nhàng chăng nữa, như trường hợp luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài tham luận tại hội nghị Mặt trận Tổ quốc phê phán cuộc CCRĐ và đưa ra những đề nghị hợp lý thì Đảng trù dập ông, dồn ông vào cảnh khốn cùng cho đến chết! Và thử hỏi có bao giờ TW Đảng thành thực sám hối về những sai lầm, những tội ác của mình hay không?

Chẳng những không sám hối mà cả cho đến ngày nay, ĐCS vẫn cứ nói lấy được là CCRĐ đã giành được thắng lợi lớn: “thực hiện ước mơ nghìn đời” của nông dân - đem lại ruộng đất cho người cày. Đây là một sự dối trá trắng trợn. Vì ruộng đất nông dân được chia thì một phần đáng kể là của những người bị quy oan, khi sửa sai cuối cùng phải trả lại. Phần ruộng đất chia còn trong tay nông dân, họ chưa kịp được hưởng gì trên mảnh đất được chia đó thì năm 1957-1958, ĐCS đã bắt đầu lùa họ vào hợp tác xã để tập thể hoá nông nghiệp, nghĩa là họ không còn làm chủ ruộng đất của họ! Vả lại, xét cho cùng, “đem lại ruộng đất cho người cày” đâu có phải là mối quan tâm chính yếu hay là mục đích tối hậu của Đảng? Cho nên đến khi sửa đổi Hiến pháp sau ngày thống nhất đất nước, bằng một điều khoản mới trong Hiến pháp, Đảng đã nhẹ nhàng quốc hữu hoá toàn bộ ruộng đất trong cả nước! Thế thì làm sao có thể nói là Đảng “đem lại ruộng đất cho người cày” được?! Quả thật là người nông dân chịu bao nhiêu đau thương tang tóc cuối cùng chẳng được gì cả!

Thứ hai. Tội phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy nghìn năm của dân tộc. Truyền thống hòa hiếu, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn Việt Nam được dân tộc ta xây dựng hàng nghìn năm đã bị ĐCS phá vỡ trong vòng ba-bốn năm CCRĐ. Nếu ai đã từng sống ở nông thôn Việt Nam trước “cách mạng”, trước CCRĐ đều cảm nhận cái tinh thần “đùm bọc nhau”, “lá lành đùm lá rách” còn khá đậm đà trong mối quan hệ giữa người với người. Cố nhiên, không ai nói là ở các làng quê không có những kẻ bóc lột, nhưng tinh thần chung ở nông thôn ta là như vậy. Với cái chính sách “phân định thành phần giai cấp”, ĐCS chia cư dân nông thôn thành cố nông, bần nông, trung nông (có ba loại, trung nông yếu, trung nông vừa, trung nông cứng), phú nông (có hai loại, phú nông thường, phú nông ngấp nghé địa chủ – đây là “sáng kiến” của người chấp hành để khi cần thì dễ “kích” họ lên địa chủ, chứ trong chính sách thì không chia ra), địa chủ (có mấy loại, địa chủ yêu nước và kháng chiến, địa chủ thường, địa chủ cường hào ác bá, địa chủ phản động). Sự phân chia có vẻ “khoa học” lắm, nhưng khi thực hiện thì tất cả đều do cảm tính chủ quan, do nhu cầu của “đội” (khi trên bắt phải đủ 5% địa chủ, bắt phải có ác bá, phản động để bắn, thì cứ phải “kích” lên cho đủ số), do ý muốn chủ quan của “ông đội” (nhiều khi ý muốn đó rất quái đản, như khi thấy thái độ của đương sự có vẻ ngang bướng thì cứ “kích” lên cho bõ ghét). Về nguyên tắc, muốn phân định thành phần thì phải “tố khổ”, phải “tố” nhau, vạch nhau ra để “xếp” thành phần. Với lối xúi giục, cưỡng ép người dân tố giác lẫn nhau rất phổ biến trong CCRĐ, nên từ đó họ chia rẽ nhau, thù ghét nhau. Cũng có nhiều người lúc đầu không muốn “tố” ai hết vì không muốn làm trái lương tâm, nhưng ai không chịu “tố” thì bị đội CCRĐ coi là chưa “dứt khoát”, “có liên quan”, v.v… cuối cùng thì ai cũng tham gia vào cuộc “tố” lẫn nhau để giữ mạng mình. Đây là số đông. Nhưng cũng có không ít những kẻ hoặc vì tư thù, hoặc vì muốn trục lợi, “tố điêu”, “tố láo” để ngoi lên làm “rể”, làm “cốt cán”, làm cán bộ, để được chia “quả thực” nhiều hơn. Mà thường cái đám người này nghèo túng vì lười biếng, vì rượu chè, cờ bạc, có khi là những phần tử lưu manh, nhưng thường lại được đội coi như là bần cố nông để dựa, o bế, sử dụng nhằm… hoàn thành nhiệm vụ của đội. Một điều kỳ quái cần nói nữa là: mọi lời “tố” của nông dân đều không cần bằng chứng, hơn nữa mọi lời “tố” của họ đều được coi là bằng chứng, đều được ghi vào hồ sơ tội trạng! Không cần có bất cứ một sự kiểm chứng nào hết! “Lý luận” chung hồi đó là “phải tin tưởng ở quần chúng”, “nông dân lao động đã nói là đúng”. Thế là không còn ai cãi được nữa! Chính vì thế, khi đội cần “đánh vào” bí thư hay chủ tịch uỷ ban kháng chiến trước ở vùng tạm bị chiếm, nay bị coi là tổ chức cũ, mà có một ai đó “tố” là “chúng nó họp Quốc Dân Đảng” thì bị “lên hồ sơ” ngay là “bí thư Quốc Dân Đảng”, và anh ta khó tránh khỏi cái án tử hình! Một nông dân “tố” một người bị “kích” lên địa chủ là “hồi kháng chiến, khi máy bay địch tới, tôi thấy hắn nhìn lên trời và chỉ chỏ cái gì đó”, tức thì bị quy ngay là “gián điệp” và số phận anh ta coi như là “đi đứt”! Có thể là thế hệ mới lớn lên, nhất là những người đang sống ở các nước dân chủ tiên tiến, thì khó mà tin là đã có những chuyện như thế. Khốn thay đó lại là sự thật đắng cay đã từng xảy ra trong lịch sử nước nhà!

Tóm lại, CCRĐ làm cho nội bộ nông dân chia rẽ trầm trọng, làng xóm đảo lộn lung tung! Đến khi ĐCS tuyên bố sửa sai thì tình hình nông thôn lại cực kỳ hỗn loạn: những vụ ẩu đả, đâm chém, trả thù nhau giữa những người bị “tố oan” với những kẻ “tố điêu”, giữa những người bị tước đoạt tài sản với những người được hưởng “quả thực”, giữa cán bộ cũ bị quy kết phản động và bị tù tội với cán bộ mới “ngoi lên” trong CCRĐ… Di sản nghìn năm rất đáng quý mà cha ông ta đã để lại là tinh thần đùm bọc, hòa hiếu nhau của người dân nông thôn miền Bắc đã bị phá huỷ từ ngày CCRĐ. Lẽ nào đó không phải là một tội ác?

Thứ ba. Tội phá hoại đạo lý, luân thường của dân tộc. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Các đội CCRĐ không từ một cách nào hết để “tìm ra địa chủ”, “tìm ra phản động”, “tìm ra của chìm”, họ ép buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu “đấu tố” bố mẹ chồng, con rể “đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn nhau, trò “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn “đấu tố” người đã làm ơn, láng giềng hàng xóm “đấu tố” lẫn nhau! (Cũng có trường hợp cha mẹ bấm bụng khuyên con cái “đấu tố” mình để mong cứu mạng cho con cái). Thật là một tấn bi kịch hãi hùng! Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị chà đạp, ngay lập tức phải thay đổi cách xưng hô trước nông dân, phải cúi đầu lễ phép “thưa các ông, các bà nông dân”, phải xưng “con” trước mặt nông dân, dù đó chỉ là một đứa trẻ con. Còn nông dân thì tha hồ gọi người kia là “thằng kia”, “mụ kia”, “con kia”, là “mày”, “chúng bay” và tự xưng là “tao”, “chúng tao”, thậm chí có thể chửi mắng, xỉ vả. Chẳng ai dám làm trái lại cái “lệ mới” đó – đội tuyên bố phải đối xử như thế mới “nâng cao uy thế nông dân”, mới “đánh gục giai cấp địa chủ” được! Không làm thế là “bênh địa chủ”, “mất lập trường giai cấp”, thậm chí “có liên quan với địa chủ”! Ngay cả đứa bé con cũng có thể mắng mỏ, sỉ nhục người lớn đã bị quy là địa chủ. Những người này, dù là thứ bậc thế nào trong họ tộc cũng đều bị bà con họ tộc xa lánh, để không “bị liên quan”. Còn khi hành quyết người bị án tử hình thì những người thân thích, ruột thịt của người ấy, từ già cả cho đến trẻ con, đều bắt buộc phải có mặt để chứng kiến tận mắt cảnh tượng hãi hùng đó! Đúng là sự khủng bố tinh thần cực kỳ vô nhân đạo!

Một tình trạng thương tâm nữa là nhiều gia đình ở nông thôn (và cả ở thành phố có liên hệ với nông thôn) đã tan vỡ, con cái bơ vơ, vì khi một trong hai người có gia đình bị quy (hoặc bị kích lên) thành phần địa chủ, bị gán tội phản động, thì bên kia, tức là vợ hay chồng, sợ liên luỵ phải bỏ nhau. Nhiều người đi lập gia đình khác, có con hoặc chưa có con với chồng hay vợ mới. Đến sau này thấy sai, người bị bắt đi tù này được trở về, thế là bao nhiêu chuyện rắc rối xảy ra đến nỗi Bộ tư pháp VNDCCH phải ra thông tư ngày 19.04.1956 để “giải quyết những vụ vợ chồng bỏ nhau”. Thật là mỉa mai, người ta cho rằng có thể hàn gắn được tình cảm yêu thương trong gia đình đã bị thương tổn nặng nề bằng một tờ thông tư vô hồn của Bộ tư pháp! Tình yêu của nam nữ cũng bị xâm phạm nghiêm trọng giống hệt như thế – để giữ lập trường giai cấp ai cũng phải cắt đứt với người yêu thuộc thành phần địa chủ, phản động!

Đây cũng là một nét về đạo đức nữa cần phải nói đến. Chưa bao giờ sự giả dối trắng trợn được đề cao như trong CCRĐ. Chẳng cần phải nói tới việc các “anh đội”, “chị đội” báo cáo láo cho đoàn, vì nó quá thường, mà cái cần vạch ra ở đây chính là người ta ép buộc, khuyến khích người nông dân nói dối, làm láo. Dần dà rồi người nông dân cũng thấy cần phải nói dối, làm láo để “qua khỏi cái đận CCRĐ”, họ cũng “tố bậy”, “tố điêu” dù trong thâm tâm biết mình đang nói dối, vu khống. Cũng có người cố giữ lương tâm trong sạch, nhưng thường họ phải trả giá đắt cho điều đó. Cho nên cơn dịch dối trá cứ lan tràn. Đội cũng dạy thêm cho nông dân quen làm những việc giả dối, chẳng hạn như dặn họ: khi thấy trên màn ảnh xuất hiện hình địa chủ thì phải hô “đả đảo”, hay vừa hô vừa ném đá vào hình địa chủ để tỏ lòng uất hận của mình. Thế là nông dân cũng làm theo. Tất nhiên, cũng không loại trừ cái hiện tượng gọi là “tâm lý đám đông”, khi người ta hành động như trong một cơn lên đồng tập thể. Chẳng hạn, mỗi lần chiếu phim “Bạch Mao Nữ” của Trung Quốc, thì có nhiều người khóc nức nở, và khi xuất hiện hình địa chủ là bên dưới ào ào ném đá vào màn ảnh. Chính vì thế, các diễn viên kịch thường từ chối lên sân khấu đóng vai địa chủ vì sợ vỡ đầu sứt trán.

Chủ trương của UBCCRĐTW là trong các cuộc đấu địa chủ, nhất là địa chủ cường hào ác bá đều phải chuẩn bị rất chu đáo để ra “đấu trường” không được vấp váp. Thế là trước ngày đấu, mọi “rễ”, “chuỗi”, dân quân, công an, toà án, chủ tịch đoàn… đều phải “diễn tập” như thật, ai lên “đấu” trước, ai lên “đấu” sau, “tố” thế nào, xỉa xói ra sao, nói gì, khi nào người “tố” phải cảm động khóc lóc, khi nào người dân phải hô “đả đảo” (khi người bị “tố” không nhận tội…), lúc nào thì bắt địa chủ quỳ (quỳ là biểu hiện của sự “bị đánh gục”!), lúc nào thì “hoan hô” (khi toà tuyên án tử hình, tịch thu tài sản…). Chủ tịch đoàn những cuộc đấu lớn đều là “rễ”, “chuỗi”, cốt cán mới đào tạo trong vài tháng, nói năng ngượng nghịu, lúng ta lúng túng, điều khiển thế nào nổi, nên khi ra “đấu trường”, thường “anh đội”, “chị đội” phải ngồi sau lưng nhắc, như người nhắc tuồng (souffleur) ở rạp hát! Cũng có khi nhắc mãi không được, chủ tịch đoàn cuống lên, thì “anh đội” giật micro và điều khiển luôn. Tóm lại, một sự diễn kịch, một trò giả dối lố bịch, trắng trợn, mà không hề biết ngượng! Nhưng cái nguy hại chính là sự giả dối đó cứ thấm dần vào tiềm thức cán bộ và người dân, tạo nên một nếp sống giả dối vô đạo đức của nhiều người!

Thứ tư. Tội phá huỷ truyền thống tâm linh và văn hoá của dân tộc. Bằng cuộc CCRĐ, ĐCS cố tình triệt hạ các tôn giáo và truyền thống tâm linh của dân tộc. Trước CCRĐ, các nhà thờ Thiên Chúa giáo, các tu viện, nhà cô nhi… đều có ruộng đất riêng, các Chùa có ruộng hậu do tín chủ cúng cho chùa, các nhà thờ họ có ruộng họ, các đình có ruộng làng… để lo việc sửa sang, tu bổ nhà thờ, chùa, đình, cúng tế hàng năm, việc từ thiện, v.v… và để nuôi sống các linh mục, tu sĩ, tăng ni và những người chuyên lo việc trông nom, thờ phụng… Nhờ thế hoạt động tôn giáo, tâm linh, từ thiện được tiến hành bình thường không có trở ngại. Nhưng với chính sách CCRĐ của ĐCS, tất cả các ruộng đất đó đều nhất loạt bị coi là ruộng đất phong kiến và bị trưng thu để chia cho nông dân. Với cái đòn độc địa đó, tất cả các nhà thờ, tu viện, nhà cô nhi, chùa chiền, điện thờ, miếu mạo, nhà thờ họ, đình… đều trở nên điêu đứng và dần dần tàn tạ. Riêng đối với nhà thờ Thiên chúa giáo, do phong trào giáo dân ồ ạt di cư vào Nam, nên về sau Đảng đã phải để lại cho các nhà thờ một ít ruộng đất. Người ta công nhiên dùng các cơ sở thờ cúng vào việc họp hành, đóng quân, làm hội trường, làm kho hợp tác xã mua bán, kho hợp tác xã sản xuất, v.v… Có nơi thậm chí người ta cho các tượng Phật trôi sông. Nhiều nơi bà con tín đồ bí mật cứu các tượng Phật, đem chôn, đem giấu hầm kín, sau này phần lớn các tượng gỗ đều mục nát, thế nhưng cũng có ít tượng còn giữ được, vào thập niên 80 bà con mới đưa lại vào chùa. Tóm lại, cuộc sống tâm linh hoàn toàn bị xoá bỏ. Chữ “thiện”, chữ “nhân” một thời gian dài chẳng ai dám nói đến, vì giữa lúc cái ác tràn đầy mà nói đến chữ “thiện”, chữ “nhân” thì có thể bị coi là biểu hiện sự phản đối!

Trong lúc đó, người ta lại đề cao bạo lực, cổ vũ đấu tranh giai cấp, khuyến khích điều ác, điều bất nhân, điều vô đạo. Một điều rất quái dị trong CCRĐ mà ĐCS lại coi là tự nhiên hoặc là cần thiết: người ta thường xuyên huy động các cháu thiếu niên từ 9-10 tuổi trở lên tham gia CCRĐ. Bắt chúng mang trống ếch đi cổ động, đi “đả đảo”, “hoan hô”, tham dự các cuộc đấu tố, các phiên toà CCRĐ, các buổi hành quyết công khai. Nhiều cháu, nhất là các cháu gái, vốn có tâm lý hiền lành bị bắt buộc phải tham gia, đã không chịu nổi, run sợ, khiếp đảm, có cháu ngất xỉu trước cảnh hãi hùng, súng bắn, máu đổ… Còn các cháu vốn có tâm lý hung dữ thì lại thích thú hoan hô, thậm chí sau khi “được” tham dự những cảnh tượng đó, có nơi chúng lại bày trò chơi “đấu tố”, bắt con cái địa chủ quỳ để con cái nông dân lên đấu, cũng xỉa xói vào mặt, cũng xỉ vả, vạch tội… Chẳng biết có ai xúi giục không, nhưng nhiều nơi đã xảy ra những “trò chơi” quái đản đó! Khi cái thiện bị nén xuống mà cái ác được cổ vũ, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên là đạo đức bị suy đồi, băng hoại dưới chế độ của những người cộng sản. Tôi còn nhớ trong thời kỳ “cởi trói”, đã được đọc truyện ngắn “Bước Qua Lời Nguyền” của Tạ Duy Anh đăng trên tuần báo “Văn Nghệ” (1989) ở Hà Nội, truyện đó phản ánh phần nào tấn bi kịch của giới trẻ nông thôn đã lớn lên trong và sau cuộc CCRĐ đầy kinh hoàng.

Không những CCRĐ đánh một đòn rất mạnh vào nền đạo lý và truyền thống nhân bản, mà nền văn hoá dân tộc cũng vì nó mà bị tổn hại rất nặng nề. Nhiều miếu đền uy nghiêm bề thế, nhiều bia đá là những di tích văn hoá lâu đời của dân tộc đã bị huỷ hoại trong CCRĐ. ĐCS giấu kín những chuyện này, nhưng cũng có thể nêu ra vài trường hợp. Mong rằng các bạn xa gần, trong và ngoài nước sưu tầm và bổ sung thêm. Chẳng hạn, cụ Nguyễn Mai (1876-1954) là hậu duệ đời thứ 14 của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, gọi thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đời thứ 11 là bác. Đầu năm 1954, lúc 78 tuổi cụ bị đội và đoàn CCRĐ quy là địa chủ (vì có vài mẫu cho phát canh để sống) lại bị “kích” lên thành phần phong kiến cường hào (vì cụ từng đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900) lúc 24 tuổi, lại đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) lúc 28 tuổi), mà thật ra cụ không hề nhận chức tước, phẩm hàm gì, chỉ cam phận sống thanh nhàn ẩn dật. Cụ bị đấu ba đêm liền, bị kết án 15 năm tù khổ sai, bị giam ở trại Đâng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi nước rất độc, nên ngay mùa thu năm ấy, cụ bị phù thũng chết trong trại tù, vùi xác ở ven rừng. Cụ Nghè Nguyễn Mai từ trần trong uất hận là nỗi đau lớn, nhưng nỗi đau còn lớn hơn nữa cho dân tộc là do cụ bị quy oan như vậy, mà đội CCRĐ đã phá huỷ nhiều đền đài, bia, miếu thờ của các danh nhân họ Nguyễn Tiên Điền và nghiêm trọng hơn nữa đã đốt cháy ngôi nhà năm gian chứa đầy thư tịch quý giá của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, trong đó có di cảo của thi hào Nguyễn Du. Một sự mất mát lớn lao về văn hoá không có gì bù lại được! (Xem sách “Bể Dâu Trong Dòng Họ Nguyễn Du” của Đặng Cao Ruyện, NXB Miền Đông Hoa Kỳ, 2002, tr. 200, 201).

Còn một chuyện này nữa. Trong cuộc hội nghị cán bộ do TW Đảng triệu tập sau khi có nghị quyết sửa sai trong CCRĐ hồi tháng 09.1956, tôi được nghe ông Cù Huy Cận, lúc đó là thứ trưởng Bộ văn hoá, nói ở cuộc họp tổ là tấm bia đá của Lê Lợi đã bị đội CCRĐ phá huỷ. Bộ văn hoá phải cấp tốc thuê làm bia khác giống hệt bia cũ rồi đặt vào chỗ cũ và phải tuyệt đối giữ bí mật để không ai biết là bia mới! Tôi không có điều kiện kiểm chứng, nhưng chẳng lẽ ông thứ trưởng văn hoá lại nói sai?!

*

Như trên tôi đã viết, tuy là chuyện CCRĐ đã qua từ lâu rồi, nhưng ngày nay, vẫn cần phải nói đến, vì ngày nay tập đoàn lãnh đạo ĐCS đang cố viết lại lịch sử, đang cho bọn bồi bút xuyên tạc lịch sử để chạy tội cho ông Hồ Chí Minh và cho ĐCSVN trong CCRĐ và cả trong nhiều việc khác nữa.

Cần phải nói công bằng là trước năm 1950, ông Hồ và ĐCSVN không nói đến CCRĐ, chỉ nói đến giảm tô, mà cũng chỉ trên giấy tờ và rất coi nhẹ việc thực hiện. Chỉ từ năm 1952, vấn đề giảm tô và CCRĐ mới đặt ra một cách gắt gao. Như vậy có thể nói là việc CCRĐ là do sức ép của Stalin và Mao Trạch Đông. Nhưng khi ông Hồ đã nhận làm CCRĐ là ông và ĐCSVN đã làm một cách tin tưởng và tích cực. Cũng có thể do yếu tố tâm lý của một người trước đây đã từng bị Stalin và Quốc tế Cộng sản coi là hữu khuynh, thậm chí bị nghi ngờ, không giao việc trong thời hạn dài, nay lại bị nhận xét là coi nhẹ nhiệm vụ phản phong, thì ông càng phải cố tỏ rõ tinh thần mẫn cán, kiên quyết của mình. Quả là hồi đó, ông Hồ và ĐCSVN cũng thật tình rất tin tưởng vào Stalin và Mao Trạch Đông. Chẳng thế mà ông đã công khai nói trước hội nghị cán bộ (1950) tại chiến khu Việt Bắc để chuẩn bị cho đại hội 2 của ĐCS sẽ họp năm sau là: “Các cô các chú nên biết rằng: ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được”. Chính tôi có mặt trong cuộc hội nghị đó, tôi nghe rõ, nhiều người khác cũng nghe rõ như thế, có điều bây giờ họ không muốn hay không dám nhắc lại mà thôi. Đến đại hội 2 của Đảng (tháng 03.1951), ông Hồ lại cũng nói đúng như thế, và cụ Nguyễn Văn Trấn cũng đã kể lại chuyện đó trong sách của cụ “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”. Cho nên ông Hồ làm CCRĐ rõ ràng với sự tin tưởng và tích cực. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà cụ Vũ Đình Huỳnh, người gần gũi ông nhất thời gian đó sau này đã “khẳng định người chịu trách nhiệm chính trong sự gây ra những sai lầm trong CCRĐ là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải ông Trường Chinh, như đã có sự ngộ nhận kéo dài nhiều năm. Trường Chinh là con dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ” (xem “Đêm Giữa Ban Ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên). Theo tôi, đúng là ông Hồ phải chịu trách nhiệm chính, như cụ Vũ đã nói, nhưng Trường Chinh chẳng phải là “con dê tế thần” với cái nghĩa “oan dương” đâu, vì ông ta vừa là Tổng bí thư, vừa là chủ nhiệm UBCCRĐTW, ông ta là người điều hành mọi việc CCRĐ hồi đó, cho nên, nếu Trường Chinh không phải là thủ phạm số một thì cũng phải là thủ phạm số hai. Cái ý của cụ Vũ, theo tôi hiểu, là TW Đảng trong hội nghị lần thứ 10 (09.1956) đã không đả động gì đến Hồ Chí Minh, đã không dám nói đến trách nhiệm của ông Hồ (vì thi hành kỷ luật Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì… ôi thôi, ĐCS còn gì nữa!) mà chỉ đưa Trường Chinh và các ông khác ra “chịu trận” mà thôi.

Sau này, trong giới thân cận với giai cấp cầm quyền, có những người hay tung ra những câu chuyện về Hồ Chí Minh không tán thành chủ trương CCRĐ, không tán thành việc xử tử bà Nguyễn Thị Năm, không tán thành làm Chỉnh đốn tổ chức trong CCRRĐ, v.v… Nhưng, xét cho cùng, loại chuyện đó chỉ là những huyền thoại không hơn không kém. Những huyền thoại ấy nhằm đánh lừa những người không biết tình hình thực tế hồi thập niên 50 ở miền Bắc và những thế hệ trẻ hậu sinh, nhằm chạy tội cho ông Hồ để vớt vát cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” làm phao cứu mạng cho tập đoàn thống trị cộng sản. Hoàng Tùng, nguyên tổng biên tập báo Nhân Dân, nguyên bí thư TW ĐCSVN, nhiều năm làm tuyên huấn, v.v… là một trong số những “chuyên gia” sáng tác huyền thoại kiểu đó. Trong hồi ký “Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ”, ông ta có kể lại về thái độ của ông Hồ đối với án tử hình bà Nguyễn Thị Năm như sau: “Họp Bộ chính trị Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm” (xem đoạn trích, đăng trên tờ “Diễn Đàn Forum” ở Paris, số 123/11.2002, tr.15). Khi kể chuyện này, Hoàng Tùng đã cố lờ đi mấy điều thực tế lịch sử rất quan trọng: 1/ vào thời điểm nửa đầu thập niên 50, uy thế của ông Hồ trong Đảng là tuyệt đối, một lời của ông đã nói ra thì không một ai, kể cả các ông trong BCT, dám làm trái ý ông hết; 2/ tất cả các ông trong BCT TW, không trừ một ai hết, đều răm rắp giữ đúng tư cách một người học trò khiêm tốn, không bao giờ được phép quyết định những chủ trương lớn mà không có ý kiến ông, huống hồ là việc làm trái ý ông. Hồi 1952-1953 thì không thể nào có chuyện “Thôi tôi theo đa số” và “Và họ cứ thế làm” được! Nếu thật sự ý thức được là “không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”, mà ông Hồ chỉ lắc đầu một cái thôi, chứ không cần phải nói nhiều lời như Hoàng Tùng kể, thì chắc chắn là ông đã cứu được bà Nguyễn Thị Năm! Mà không chỉ một mình bà Năm! Thêm nữa, cái chữ “họ” trong câu của Hoàng Tùng “Và họ cứ thế làm” rất mập mờ: “họ” là ai? Các ông trong BCT hay các cố vấn? Các ông trong BCT thì chắc chắn là không. Còn các ông cố vấn có thể họ trái ý với ông Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng của Việt Nam, nhưng họ không thể bắt ép ông được, họ chỉ là cố vấn, chứ không có quyền biểu quyết, quyết định. Những cơ quan nào đã từng làm việc với cố vấn Trung Quốc hồi đó đều biết cái nguyên tắc đó. Cho nên có thể khẳng định rằng: Trong vụ án Nguyễn Thị Năm, đúng là ông Hồ đã không cứu bà Năm. Cũng như sau này, trong vụ án Xét lại – chống Đảng, ông đã không cứu ông Vũ Đình Huỳnh. Dù rằng ông biết rõ về họ.

Hơn nữa, một câu hỏi hoàn toàn chính đáng được đặt ra: trong suốt ba-bốn năm đằng đẵng lẽ nào ông Hồ và BCT không hề hay biết gì hết đến những thảm hoạ của người dân ở nông thôn mà họ cai trị hay sao? Lẽ nào ông Hồ, Trường Chinh và các ông khác trong BCT không biết rằng ở quê hương mình những người đồng hương của họ đang khốn khổ ra sao? Lẽ nào trong giới thân cận của ông Hồ và các uỷ viên BCT không có một ai dám phản ánh tình trạng bi đát của người dân cho họ biết hay sao? Câu trả lời dứt khoát là: các ông ấy đều có biết, nhưng các ông đều im lặng! Im lặng đến nỗi ông Vũ Đình Huỳnh một lần đang ốm cũng cố chống gậy lên Chủ tịch phủ gặp ông Hồ và nói toạc vào mặt ông: “Máu đồng bào, đồng chí đã đổ mà Bác ngồi yên được à? Chúng ta tuy không có học, chúng ta dốt, chúng ta phải vừa làm vừa xây dựng chính quyền, vì dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào, đồng chí!” (Xem “Đêm Giữa Ban Ngày”). Hoàng Tùng cũng đã lờ tịt cái thực tế lịch sử phũ phàng này: Trong suốt thời gian CCRĐ, ông Hồ, với tư cách là Chủ tịch nước, chưa hề ký một lệnh ân xá nào cho một ai bị án tử hình. Chỉ từ sau Đại hội lần thứ 20 ĐCS Liên Xô và nhất là sau hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp của Đảng (từ 28.04 đến 03.05.1956), do phản ứng rất mạnh của cán bộ thì mới có lệnh tạm thời chưa thi hành các án tử hình. Nhưng, than ôi, lúc đó thì… CCRĐ về cơ bản đã gần xong rồi! Lúc đó các đoàn và UBCCRĐTW đang bắt tay làm báo cáo tổng kết để chuẩn bị cho hội nghị TW Đảng kiểm điểm CCRĐ (tháng 09.1956).

Ngay cả việc Chỉnh đốn tổ chức trong CCRĐ, Hoàng Tùng cũng cố tình đổ lỗi cho cố vấn Trung Quốc là chính, chứ không phải lỗi của ông Hồ và ĐCSVN. Ông Tùng viết: “Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác, như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng tám thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp dừng lại (bao nhiêu đầu rơi, máu đổ và CCRĐ cũng đã gần xong, thế mà bảo là “kịp”! – Người viết), nếu không thì tan nát hết”. Một đoạn khác: “Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, còn là do ta vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế” (xem tờ “Diễn Đàn Forum” nói trên). Đúng là các cố vấn Trung Quốc chỉ biết có kinh nghiệm CCRĐ ở Hoa Nam, khi Hồng quân tiến xuống phía Nam, hầu như không có cơ sở tổ chức của ĐCS, nên có nhiều người không phải cộng sản cũng đã đứng ra lập tổ chức, lập chính quyền, vì thế khi làm CCRĐ thì ĐCS Trung Quốc cố tình nhân cơ hội ấy quét sạch các tổ chức đó đi lập những tổ chức mới của họ. Còn ở miền Bắc Việt Nam, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Không thể làm rập khuôn theo kinh nghiệm Hoa Nam được. Tôi cũng chẳng thích gì các cố vấn Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải xét vấn đề khách quan theo đúng sự thật lịch sử, chứ không thể đổ lỗi, đổ tội tùm lum cho họ tất cả được. Ông Hồ và BCT TW ĐLĐVN sống và làm việc ở Việt Nam, có phải là trẻ con đâu mà bảo các ông cố vấn Trung Quốc xúi gì là làm nấy? Chẳng qua chỉ vì khi đã say men “lập trường giai cấp đấu tranh”, say men Marxisme-Leninisme, Stalinisme, Maoisme... trong cuộc lên đồng tập thể, thì chính các ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam cũng “hăng hái” không kém gì người ta. Tôi còn nhớ, có lần đọc bài nói chuyện của ông Hồ với cán bộ CCRĐ đăng trên tờ nội san “Cải cách Ruộng đất” (tạp chí lưu hành trong nội bộ), trong đó ông giải thích rất mộc mạc chủ trương không được dựa vào tổ chức cũ như sau: “Tổ chức cũ là “tổ kén”, các cô, các chú không được dựa vào…”. Lại cũng cái lối dùng hình ảnh như việc uốn tre đã nói trên! Năm 1962, khi nói chuyện về Tuyển tập Hồ Chí Minh với anh Nguyễn Kiến Giang, lúc đó là phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật, anh kể rằng: “Làm tuyển tập đó chúng tôi mệt lắm, phải rà soát lại cả, bao nhiêu bài nói của ông cụ trong CCRĐ phải loại bỏ hay thu gọn lại”. Tôi hỏi anh có nhớ bài ông cụ nói “Tổ chức cũ là “tổ kén” không? Anh trả lời: “Có chứ! Bài đó phải loại bỏ. Cán bộ đảng viên nông thôn người ta đang oán giận đùng đùng, đưa vào tuyển tập thế nào được!”. Nếu ông Hồ không tán thành chủ trương của các cố vấn đối với tổ chức cũ ở nông thôn thì có ai bắt ông phải nói thế đâu?

Tôi kể lại những chuyện đó chỉ để đi đến kết luận này: ĐCSVN chớ nên đổ lỗi, đổ tội cho ai cả, mà cần thấy hết cái trách nhiệm lớn lao của mình trong CCRĐ. Chừng nào ĐCSVN chưa sám hối được về những tội ác đã gây ra, thì người dân chớ có hy vọng là Đảng sẽ sửa đổi, sẽ đổi mới và sẽ không tái diễn lại những tội ác trước đây.

Cũng xin mọi người đừng quên: CCRĐ không phải là thảm hoạ đầu tiên, cũng chẳng phải là thảm hoạ cuối cùng mà tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc ta! Tôi không kể những thảm hoạ trước CCRĐ, mà chỉ nói ngay liền sau CCRĐ là vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, vụ án Xét lại – chống Đảng, rồi Cải tạo công thương nghiệp, đánh đổ tư sản ở miền Bắc, rồi cái nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Thường vụ Quốc hội do Trường Chinh ký ngày 20.06.1961, nhốt hàng chục vạn người vô tội ở miền Bắc vào các trại tập trung khủng khiếp, rồi Tết Mậu Thân, v.v… và v.v… Nếu kể hết thì ta thấy cả một chuỗi dài tội ác khủng khiếp đã qua và đang tiếp tục mãi cho đến tận ngày nay. Cố nhiên, ngày nay người ta dùng thủ đoạn tinh vi hơn, nhưng bản chất tội ác vẫn thế.

Tội ác mới gần đây nhất là vụ án Lê Chí Quang, xử một nhà yêu nước chân thành, một chí sĩ đáng kính dù chỉ mới ngoài ba mươi tuổi! Cái “tội” của anh là đã dũng cảm dấn thân vì nước, đã dám kêu gọi đám cầm quyền hiện nay hãy cảnh giác kẻo mang tội bán nước cho Bắc triều, đã dám đứng chân vào “Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng” những mong trừ được quốc nạn cho dân tộc. Tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam đã trắng trợn bày trò xử án để tống người thanh niên yêu nước vào tù, người thanh niên đã từng tuyên bố đanh thép chí hướng của anh trong bài tiểu luận nổi tiếng “Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều”: “Tôi viết bài này khi đang bị kìm kẹp trong vòng nghiệt ngã của các lực lượng bảo thủ và tay sai cho Bắc Triều. Biết rằng, bài viết này không làm cho hào quang lấp lánh trên đầu tôi mà trái lại, càng đẩy tôi sâu thêm vào vòng nguy hiểm. Ngay như đối với một công thần của cách mạng, mà họ còn ngang nhiên tuyên bố xanh rờn: "… Sẵn sàng hy sinh Hoàng Minh Chính để bảo vệ chế độ". Huống chi tôi chỉ là con tốt đen dễ dàng bị biến thành vật tế thần cho bàn thờ Bắc Triều. Dẫu sao trước hiểm hoạ khôn lường của tồn vong đất nước, tôi đâu dám nề hà xả thân, bởi tôi tâm niệm câu nói của Hàn Phi Tử: "Nước mất, mà không biết là bất tri. Biết mà không lo liệu, là bất trung. Lo liệu, mà không liều chết là bất dũng". Chỉ mong sao tấc lòng nhỏ mọn này, được lương tri dân tộc trong và ngoài nước soi thấu, và hết lòng, hết sức chỉ giáo” (01.10.2001).

Rất mong rằng trong dịp nhớ lại thảm hoạ CCRĐ, “lương tri dân tộc trong và ngoài nước”, nhất là lương tri giới trẻ nhận thức rõ rằng chế độ độc tài đảng trị mà còn thì những thảm hoạ tương tự vẫn sẽ còn tiếp tục, vì tập đoàn thống trị cộng sản không tôn trọng con người, không tôn trọng sinh mạng và quyền tự do của con người, không tôn trọng luật pháp mà chỉ coi trọng quyền lực của họ là tối thượng mà thôi. Nhắc lại thảm hoạ CCRĐ, chúng tôi rất mong mọi người, nhất là giới trẻ, noi gương Lê Chí Quang, thêm quyết tâm tranh đấu sớm xoá bỏ chế độ độc tài nhằm chuyển hoá đất nước ta thành một xã hội dân chủ đích thực, tạo điều kiện cho sự phát triển và phồn vinh của Tổ quốc chúng ta.

15.12.2002

 



 ====================================================================================================================================
IV.- CẢI CÁCHRUỘNG ĐẤT
Lm. Vĩnh  Sang, DCCT

VRNs (13.09.2014) – Mấy hôm nay trên các trang báo, các đài truyền hình, các websites, các blog và facebook nổ tung một lượng thông tin rất lớn về cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất (1946 – 1955  tại Hà Nội, cơn bão thông tin như xới lên vết đau mà lâu lắm rồi, 60 năm tưởng chìm vào quên lãng, chí ít là cũng tạm ngủ yên vì không mấy ai nhắc đến nữa. Bao nhiêu cảm xúc được phơi bày cho thấy, quả thật là một cuộc “cách mạng long trời lở đất” trong quá khứ còn hằn dấu cho đến hôm nay. Phản ứng mạnh và sâu rộng như thế này không biết đến bao giờ biến cố tang tóc này mới lắng xuống và trôi vào dĩ vãng?

Toà Án Nhân Dân
Cuộc cải cách ruộng đất những năm ấy ghi một dấu ấn sâu đậm vào cuộc sống gia đình tôi, cách riêng cha tôi, mà cho đến giờ chết ông vẫn còn chưa nguôi ngoai nỗi đau buồn. Không riêng gì nhà tôi, hầu hết các gia đình ở miền Bắc đa phần đều hứng chịu, người cách này kẻ cách khác, kẻ cả những gia đình đã vào Nam trước nhưng vẫn có liên hệ với họ hàng thân thuộc ở lại miền Bắc.

Năm 1945, khi Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền, cha tôi, đang còn là một thanh niên, vội vàng bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con ở miền quê nghèo nàn của mình, trốn lên thành thị để tránh bị ruồng bắt. Cha tôi chẳng làm gì để phải mắc “nợ máu” với nhân dân, nhưng ông bị tìm bắt chỉ vì đã là chánh hội Nam Thanh (hội Thanh Niên Công Giáo trong Giáo Xứ thời bấy giờ), bị xem là lực lượng đối kháng với họ. Mẹ tôi kể “Bố vừa thoát ra khỏi nhà ban chiều, lúc sập tối, thì nửa đêm họ ập vào nhà lục soát tra khảo mẹ”.

Sau cái đêm kinh hoàng ấy, mẹ tôi đã tìm cách đưa đứa con trai đầu lòng trốn lên thành Nam theo bố, ông Nội tôi thì giữ bằng được đứa con trai thứ hai ở lại quê để “hương khói tổ tiên”. Mẹ tôi sẽ tìm cách trở về làng “đánh tháo” đứa con này của mình, cha tôi sẽ đạo diễn “chiến dịch” ly kỳ ấy, vì không chịu được cảnh “cứ xới cơm lên là mẹ lại khóc vì mất con”.

Cuộc “bắt cóc” đứa con trai được thực hiện đúng ngày lễ Đức Mẹ lên Trời, bổn mạng của Giáo Họ, mọi người vui vẻ tham gia cuộc rước kiệu, ông Nội tôi mải mê đọc kinh đi theo kiệu, anh tôi thoát ra sau mật lệnh của thím út, hai mẹ con gặp nhau ở bãi tha ma rồi cắm đầu chạy. Cuộc đào thoát diễn ra ban đêm, hai mẹ con băng qua các cánh đồng chứ không dám chạy trên mặt lộ sợ bị bắt lại. Khi đến được nơi an toàn là bến đò, hai mẹ con xuống núp ở một canô chở chiếu đi buôn. Lúc này mẹ tôi mới phát hiện ra túi bánh kẹo cha tôi mua, dặn trao cho thím út mang về làm quà cho mọi người, vẫn còn đeo nguyên bên người… Sau này, năm 1975, các anh tôi phải đi tù cải tạo xa, nhiều tháng ngày không tin tức, một lần nữa mẹ tôi lại nhiều phen băng rừng tìm con, bà lồng lộn lên như con thú bị mất con, quyết tâm giành lại cho bằng được.

Di cư vào miền Nam rồi, ngày được tin ông Nội tôi mất, cả nhà bao trùm một bầu khí thê lương. Bố tôi ngồi rầu rĩ không nói gì, mấy ngày trôi qua trong im lặng đáng sợ, chỉ có tiếng thở dài của bố và của mẹ, thỉnh thoảng các chú tôi đến nhà, mấy anh em lại ngồi vò đầu thở dài với nhau. Mấy ngày sau bố tôi tổ chức phát tang rồi đi dâng lễ ở Nhà Thờ, tối tối đọc kinh trong nỗi buồn hiu hắt. Sau này nhờ Ủy Hội Quốc Tế, các danh thiếp liên lạc Bắc – Nam cho chúng tôi biết rõ hơn về cái chết của ông. Sau 30 tháng 4, chính cô tôi vào Nam kể lại nhiều chi tiết đau xót hơn nữa.

Ông tôi, một nông dân nghèo, sở hữu 2 công ruộng, bị xếp loại địa chủ lôi ra đầu tố. Cả cuộc đời chân lấm tay bùn, cày cấy trên chính mảnh ruộng của mình còn không đủ ăn lấy ruộng đâu ra mà cho tá điền làm thuê? Tính tình ông nhân hậu, cho người hàng xóm mượn vài yến thóc, thế cũng đủ là nguyên nhân để bị kết tội địa chủ. Người ta vin vào việc ông có thóc cho vay, chính người hàng xóm từng được vay thóc đã quay ngược lại vu cáo ông tôi, rồi mấy người trong xóm theo phong trào, nhảy dựng lên mà kể tội, bảo “lắm của nhiều bạc nên mới phè phỡn sáng chiều chỉ mỗi một việc đến nhà thờ đọc kinh”!?!


Bấn Cố nông đấu tố Địa Chủ
Tòa Án Nhân Dân quyết định xử tử hình ông tôi. Đêm trước ngày thi hành án, cô tôi nắm một nắm cơm bò vào sân đình nơi nhốt ông tôi để ông ăn đỡ đói, khi bò vào đến nơi trói ông tôi, sờ vào người thì ông tôi đã mất rồi, người cứng đờ không còn biết gì nữa, cô tôi sợ quá không dám phản ứng gì, lẳng lặng bò ra. Hôm sau họ đem xác ông ra vùi ngoài bãi tha ma, đến con ruột cũng không dám thắp nén hương cho bố, mãi sau này mới đem cải táng về chung trong lăng mộ của gia tộc.


Cũng sau năm 75, người hàng xóm từng cầm đầu đám đông đứng lên đấu tố ông tôi tìm vào Nam, ông ta tìm đến thăm gia đình tôi và ngỏ lời xin lỗi, cha tôi lẳng lặng không một lời trách cứ. Sau bữa cơm mời khách, cha tôi bảo mẹ tôi cho họ ít tiền xe.

Khách về rồi, cha mẹ tôi bùng nổ xung đột, khi có khách bà nhịn không nói, khách đi rồi, bà bảo sao lại có thể dọn cơm đãi đằng kẻ đã vô ơn bất nghĩa, đã góp phần làm hại cha của mình cơ chứ. Cha tôi vẫn không một lời, gương mặt ông hằn lên nỗi đau khổ. Sau này khi ông đau nặng, những ngày tôi kề cận bên ông, nghe ông tâm sự, tôi mới hiểu ông bị dằn vặt về tội bất hiếu, đã vắng mặt trong những ngày khốn khổ của cha mình.

Không ai có thể đo được sự tàn phá của một chính sách tàn ác và sai lầm, nỗi đau len lỏi vào tận từng tâm hồn con người nạn nhân, di chứng đến nhiều thế hệ. Cái cách thi hành chính sách “cải cách ruộng đất” làm sụp đổ cả một hệ thống đạo đức xã hội, phá tan tình làng nghĩa xóm, gia đình anh em họ hàng ruột thịt, nó cắt nghĩa tại sao tội ác về sau này sẽ hoành hành hung tợn, con người sẽ chém giết nhau không gớm tay.

Người tin vào Chúa đứng trước thách đố vô cùng to lớn, nếu thật sự vững tin vào Chúa, phải chứng minh được rằng Tin Mừng có sức hàn gắn, chữa lành và thay đổi mọi sự. Mỗi người tùy theo lương tâm mách bảo mà dấn thân cho sự sống của dân tộc mình, dấn thân để không chỉ mang lại sự sống, nhưng còn là Sự Sống dồi dào bất diệt (x. Ga 10, 10).

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 13.9.2014

 

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

V.- CẢI CÁCHRUỘNG ĐẤT VÀ DI SẢN

Blog / Nguyễn Hưng Quốc



x


17.09.2014
Lần đầu tiên, cuộc cải cách ruộng đất của đảng Cộng sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc cải cách ruộng đất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động cải cách ruộng đất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.
Chính sách cải cách ruộng đất được đảng Cộng sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đảng Cộng sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là cải cách ruộng đất theo đường lối của Mao Trạch Đông.
Nội dung chính của cải cách ruộng đất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc cải cách ruộng đất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.
Ở đây, có mấy điều đáng nói.
Thứ nhất, dưới sức ép của các đoàn cố vấn Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam quy định một cách máy móc số lượng địa chủ chiếm 5,68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.
Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Để luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.
Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.
Bàn về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của đảng Cộng sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ đảng Cộng sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, vì thiếu ngân sách, đảng Cộng sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của cộng sản. Cả Trường Chinh, Phạm Đồng và Lê Đức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.
Bên cạnh sự độc ác, đảng Cộng sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Cộng tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Cộng, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.
Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Cộng nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.
Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng. Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc cải cách ruộng đất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ. Qua các cuộc tố cáo và hảnh quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.
Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động cải cách ruộng đất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, đảng Cộng sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.
Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.
Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.


Nguyen Quang Duy duyact@yahoo.com.au [NguyenQuangDuy]
To
==============================================================

VI.- HỒ CHÍ MINH QUA ÁNH SÁNG ĐÈN CÙ
Nguyễn thị Cỏ May

Phó-mác và Phở

Cùng thời điểm cuối hè 2014, ở Paris, dư luận ồn ào, Điện Elysée chao đảo vì quyển Hồi ký «  Cảm ơn cho lúc đó » của bà Valérie Trierweiler, bồ củ của Ông Tổng thống François Hollande, độc giả việt nam hải ngoại và cả ở trong nước cũng một lúc xôn xao không kém vì quyển « Đèn Cù » của Ông Trần Đĩnh . Một thứ tự truyện mà tác giả gọi là « Chuyện của tôi » . Cái khác nhau của 2 quyển sách, thể loại cùng na ná nhau, là «  Cảm ơn cho lúc đó » bán ngay trong mấy ngày hết 200 000 quyển . Và đang in thêm 270 000 quyển nữa . Tác giả tạm đút túi không dưới nửa trìệu euros . Còn « Đèn Củ » chắc in nhiều lắm là 4000 quyển ở 2 nhà xuất bản « Người Việt » ở Californie và « Tiếng Quê Hương » ở Virginie . Tác giả Trần Đĩnh nhận được bản quyền là bao nhiêu, không biết . Nhưng chắc không có tác quyền, mà chỉ có « chút ân tình với nhau » . Phía tác giả không đòi hỏi . Phía nhà xuất bản cũng không thể làm « hơn » được . Cả hai bên đều vui lòng viết và in sách là chỉ nhằm phục vụ độc giả đồng bào những thông tin hữu ích .
Buồn cho người viết, mà buồn cho độc giả nhiều hơn vì cho tới nay vẫn chưa biết thương người viết ! Cũng buồn không ít cho nửa triệu độc giả pháp là thích tìm đọc chuyện giường chiếu hơn là những sách mở mang trí tuệ . Bởi sách về tư tưởng hay có giá trị thật thường không bán tới 50 000 quyển !
Cả hai quyển đều nhắc tới lãnh tụ . « Cảm ơn cho lúc đó » đã làm cho Tổng thống Phủ phải chới với, Ông Hollande phải công khai lên tiếng đính chánh . Nhưng đính chánh lại làm cho người ta hiều đó là thừa nhận
sách nói đúng . « Đèn Cù » đưa thâm cung cộng sản hà nội ra ánh sáng . Hà nội đã lật đật tổ chức triển lãm Cải Cách Ruộng Đất để nói cho dân chúng biết cái hay chỉ cộng sản mới có, đó là cuộc cách mạng long trời lở đất do Hồ Chí Minh vâng lời Staline và Mao-trạch-đông ban hành, nhằm tước đoạt bằng bạo lực ruộng đất của người giàu đem chia cho người nghèo để rồi năm sau, đưa người nghèo địa chủ mới vào Hợp tác xã, trở thành công nhơn nông nghiệp . Lao động tùy sức, hưởng thụ tùy khả năng !
« Đèn Cù » phát hành được nửa tháng . Cả trên internet miển phí . Lời khen nhiều mà lời phê bình cũng có tuy ít . Có độc giả không đồng ý, nêu lên những điểm mà họ cho rằng làm lợi cho cộng sản . Tây có hơn 300 thứ phó-mác nên khó có được sự nhứt trí . Việt nam mình cũng có lắm thứ phở, tái, nạm, gầu, dòn, béo, …nên nếu vấn đề có được sự đồng ý nhưng cách đưa ra không thích hợp hay không bìết cách đưa vấn đề ra thì vẫn khó có được sự đồng thuận .
Vì vậy nhận xét « Đèn Cù » mà làm hài lòng hết mọi người là việc khó làm . Khó hơn việc đánh đổ được cộng sản hà nội hiện nay nữa .
Giờ đây, Cỏ May chỉ dám lướt qua, ghi lại vài nét về con người Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù .

Đèn cù

Khen Mao Khéo Vẽ "Ới A" Đèn Cù
Khi nhận được thông tin, vào cuối tháng 8/2014, nhựt báo Người Việt sẽ phát hành quyển sách « Đèn Cù » của Trần Đĩnh . Cỏ May chưa nghe nói tới tên Trần Đĩnh bao giờ nên chưa biết ông này là ai ? Làm gì, ở đâu ,,, ? Còn « Đèn Cù », Cỏ May ngờ ngợ phải chăng Đèn Cù là Đèn Kéo quân của ngày Tết Trung thu người ta treo trước nhà ? Còn đèn ông sao, đèn bươm bướm, …mà trẻ con cầm đi vào tối vừa hát « Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi … Đi khắp phố phường …*» có phải là biến thể của Đèn Cù không ?
Khi biết chắc Đèn Cù đúng là Đèn Kéo quân, Cỏ May bổng nhớ tới một giai thoại về Đèn Kéo quân mà ngày nay đọng lại ở chữ Song Hỉ thường thấy trong lễ cưới .
Vào thế kỷ XI đời nhà Tống ở bên Tàu, có một sĩ tử tên Vương An Thạch, 20 tuổi, sau này làm tới Tể tướng, trên đường đi tới Kinh đô dự thi Trạng Nguyên, dừng chơn lại ở một Thị trấn nghỉ qua đêm . Họ Vương trông thấy trước nhà Mã Viên ngoại có treo một lồng đèn, tức Đèn Cù hay Đèn Kéo quân, với một vế câu đối kẻ trên hông đèn « Tẩu mả đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ » (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi ) .
Liếc mắt đọc qua, Vương An Thạch buộc miệng « Câu này dể đối mà ! » . Nói rồi, ông bỏ đi cho kịp trường thi .
Đèn, Đèn Cù hay đèn gì cũng vậy, phải tỏa ánh sáng . Nhưng Đèn Cù hay Đèn Kéo quân chắc chắn không cho ánh sáng mạnh có thể đẩy lùi xa bóng tối hay làm cho người ta trông thầy rỏ ràng, rành mạch người và vật . Dưới ánh sáng của Đèn Cù, người ta chỉ trông thấy lờ mờ mà thôi . Mà Đèn Cù soi rọi vào chuyện củ, chuyện lịch sử, thì người và vật lại chỉ hiện ra mông lung lắm . Ai muốn nhận diện Hồ Chí Minh, có lẽ chỉ thấy được một con người lung linh mà thôi . Nhưng nếu thấy được con người đó, qua Đèn Cù, mặc dầu có mông lung nhưng đúng hắn, con người thật của hắn, thì cũng hay lắm rồi . Người làm nên Đèn Cù như vậy cũng đã đóng góp rất lớn cho vìệc đẩy lui được phần nào cái bóng đêm dày đặc bao trùm lên đất nước Việt nam từ gần thế kỷ nay .

Hồ chí Minh dưới ánh sáng Đèn Cù

“Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do”:

Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi Cải Cách đã đem tù, đem bắn
Độ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!
Đường nó đi trùng điệp bất nhân
Khuyết Danh -Vô Đề

Một nét mặt thật khá nổi cộm của riêng Hồ Chí Minh và của nhóm lãnh đạo cộng sản hà nội được Trần Đĩnh phơi bày ra trong vụ án Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long bị Tòa án Cải Cách Ruộng Đất hành quyết . Khi nghe Hoàng Quốc Việt về Hà nội báo cáo vụ xử tử Bà Nguyễn thị Năm, Hồ Chí Minh bảo ; « Không ổn ! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’ Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này ”.

Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long
Nhưng trước đó, Hồ Chí Minh viết bài « Địa chủ ác ghê » cổ vũ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất phải triệt để đối với địa chủ, dưới tên tác giả ẩn danh CB, tức « Của Bác », đăng trên báo Nhân Dân . Trong đó, Hồ Chí Minh còn bịa chuyện kể ra số nạn nhơn của Bà Nguyễn thị Năm để xách động lòng câm thù của nông dân và giải thích lý do tử hình Bà Nguyễn thị Năm là chánh đáng .
Gian ác hơn nữa là cả hai người đầu nảo Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh và Trường Chinh, đều tới dự khán phiên xử án Bà Nguyễn thị Năm . Hồ Chí Minh bịt bộ râu cá chốt ngụy trang . Trường Chinh mang kiếng đen che bớt cái mặt .
Khi sửa sai, Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi đã phạm những sai lầm . Nhưng theo kế hoặch, Cải Cách Ruộng đất đã hoàn tất .

Tả cảnh con đấu tố cha:

Được nghe bà kể khổ
Con thấy đời con thực là đáng chết!
Con đã đi bóc lột để nuôi bà
Con bây giờ không dám nhận là cha
Dù bà do con đẻ ra
Con, thành phần địa chủ thối tha
Trước nhân dân, trước Đảng, trước bà
Xin thành khẩn cúi đầu chịu tội!
Đó là lời môt cụ đồ ở ngoại thành Hà Nội
Trước đấu trường giăng giối với con!
Khuyết Danh - Vô Đề

Về quan hệ mật thiết với Tàu, Trần Đĩnh kể lại rất chi tiết . Lý Ban có mặt sát cánh và trong nội tình cộng sản việt nam ngay từ đầu kháng chiến . Tên này là người tàu 100%, có vợ cũng người tàu, làm Hoa kiều vận của đảng cộng sản hà nội, vừa là Tỉnh ủy viên Tỉnh Quảng đông của cộng sản tàu . Hắn ta hướng dẩn Hồ Chí Minh qua Tàu lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước để yết kiến Mao trạch đông sau khi Mao chiếm được lục địa hai tháng  . Cùng với Lý Ban có thêm mấy tên tàu nữa, Tắc Vầy, Trương Đức Duy, …với Tàu là vô danh tìểu tốt nhưng sau đó làm Đại sứ Tàu ở Hà nội và « lời lời vào tai Hà nội đều nặng cân lạng vô cùng » .
Hồ Chí Minh qua Tàu là để kiểm thảo với Mao trạch-đông, Lưu Thiếu kỳ và Châu Ân lai vì đảng cộng sản hà nội được thừa nhận là một Chi bộ của Quốc tế cộng sản . Được làm Chi bộ Quốc tế cộng sản là nhờ Mao giới thiệu Hồ chí Minh cho Staline và Staline phân công cho Mao phụ trách cộng sản hà nội . Hệ lụy của sự phân công này đã nằm sâu trong vô thức của đảng viên việt nam nên từ đó, Hà nội luôn luôn ý thức rỏ địa vị của mình là đàn em, kẻ dưới, yên phận đời đời biết ơn Mao Chủ tịch, đã trở thành nền móng văn hóa cộng sản hà nội phục tùng Tàu .
Xuân Trường cho biết « bác nhà mình chủ động khẳng định với bác Mao quan hệ giửa hai nước theo phương chăm môi hở răng lạnh » .
Tôn ti này, chính Hồ Chí Minh tự đặt ra . Và cũng chính Hồ Chí Minh tự nguyện mình chỉ có thể nêu ra được tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao . Hồ Chí Mình đề cao Mao, đem chủ trương phụ thuộc Tàu  làm bài học giáo dục cho đảng viên . Ông thêm vào Bản Điều lệ đảng câu « Lấy tư tưởng Mao trạch-đông làm kim chỉ nam » . Còn gởi đìện văn cho đảng cộng sản tàu « Đảng Lao động việt nam nguyện học tập đảng cộng sản trung quốc, học tập tư tưởng Mao trạch-đông, tư tưởng lãnh đạo của nhân dân trung quốc » .
Từ 1951, trên báo Nhân Dân,  tuần nào cũng có vài mẫu chuyện của CB (Của Bác) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Tàu . Đảng viên hảnh diện làm đàn em của Liên-xô, Anh Cả, và Tàu, Anh Hai . Sau đó, Việt nam sẽ làm Anh Ba với các nước cộng sản ở Phi châu và Nam mỹ .

Trần Đĩnh nói ra vài chi tiết rất thú vị . Từ tên Đảng Cộng sản Đông dương, Đảng Lao động, đều do Staline đặt cho . Mới thấy ở con người Hồ chí Minh, không có cái gì thật tình là của hắn ta, do chính hắn sáng tạo cả, ngoại trừ tình thần tuân phục và bản tánh gian ác cùng cực ! Có thể nói trong đời, kẻ đánh cha, chém chú, lắt vú chị dâu, cạo đầu bà thím, cũng phải bái Hồ Chí Minh làm sư phụ !

Nhắc lại 2 tên tàu Lý Ban, sau này có lúc làm Chánh án, quyền uy tột bực, thủ tiêu không biết bao nhiêu đảng viên hà nội và Trương Đức Duy là người thu xếp hướng dẩn Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Nguyễn văn Linh, Phạm văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô năm 1990 .
Hà nội lệ thuộc Bắc kinh không phải ở ngày nay, mà đã bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh tự tuyên bố Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa . Và mối quan hệ « sông liền sông, núi lìền núi » đã ngấm sâu vào tiềm thức của cộng sản hà nội . Họ không có ý thức phân biệt Việt nam là một nước riêng biệt, người việt nam là một dân tộc khác hơn người tàu . Nên trong suy nghĩ của người cộng sản hà nội không có vấn đề mất nước cho Tàu . Chỉ có những người việt nam không cộng sản hay không còn cộng sản nữa mới thấy đất nước bị mất .

Đọc Đèn Cù sẽ gặp nhiều chi tiết về ngôn ngữ lạ huắc mà Cỏ May vì lúc nhỏ ham chơi, không chịu học kỷ, nên đành ngớ ra . Số những chữ lạ này không ít .
Và khó quên giai thoại về câu đối « Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi » . Và vế đối « Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn lại, hổ biến mất » .
Không biét lúc nào Đèn Cù tắt để quân cộng sản ngừng đi, đi bán nước, đi cướp giựt tài sản của nhơn dân. Và ngày nào lá cờ vẻ hinh con hổ bị gió cuộn lại, hổ biến mất ? Đảng cộng sản ác ôn sẽ biến mât !
Thi đậu Trạng nguyên và đối được câu đối, Vương An Thạch được vợ . Hai cái vui song song . Song Hỉ !
Hết cộng sản hà nội, Việt nam sẽ có cả ngàn cái vui . Vạn cái Vui . Vạn Hỉ !

Nguyễn thị Cỏ May
-----------------------------------------------------------------------------------------------

Today at 2:18 
AM

C.- CS ĐỆ TAM DIỆT TRỪ CS ĐỆ TỨ

 

 Trần Văn Thạch (1905-1945) – Cây bút chống bạo quyền áp bức


Sau hai hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862) và Giáp Tuất (15-3-1874), Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp.  Pháp bãi bỏ giáo dục và thi cử Hán học, mở trường dạy chữ Pháp, theo chương trình Pháp, phổ biến văn hóa Pháp.  Từ đó, người Việt ở Nam Kỳ chuyển qua học chữ Pháp, làm quen với văn hóa Tây phương.  Cũng từ đó, nhiều thanh niên bắt đầu qua Pháp du học.
Xin chú ý đây là thời kỳ phát triển của chủ nghĩa cộng sản (CS) sau khi Marx và Engels tung ra bản The Communist Manifesto (Tuyên ngôn cộng sản) năm 1848.  Tiếp theo là một loạt biến cố:  Đệ nhất Quốc tế thành lập năm 1864; Đệ nhị Quốc tế thành lập năm 1889, cách mạng CS thành công ở Nga năm 1917 và đảng CS Pháp được thành lập năm 1922.  Các trào lưu nầy ảnh hưởng nhiều đến sinh viên du học.
Đợt du học đầu tiên từ Nam Kỳ có thể chia thành hai nhóm: nhóm nhà giàu và nhóm trung lưu với nhà nghèo.  Nhóm nhà giàu qua Pháp hoặc ăn chơi, hưởng thụ, hoặc học những ngành nghề để trở về tiếp tục bảo vệ và phát triển cơ nghiệp sẵn có của cha ông, từ đó hình thành năm 1923 đảng Lập Hiến (Parti Constitutionaliste), hợp tác với Pháp, nhưng cũng đưa ra một số đòi hỏi cải cách cho tự do dân chủ.
Nhóm trung lưu và nhà nghèo phải chăm học, học giỏi mới được du học.  Ngoài những người chỉ lo học để trở về phụ giúp gia đình, thì những sinh viên cấp tiến và thiên tả, qua Pháp vừa học, vừa hoạt động tranh đấu cho đất nước Việt Nam.  Ngay tại Pháp, nhóm sinh viên nầy cũng chia thành hai:  Nhóm thứ nhứt gia nhập đảng Cộng Sản Pháp và theo Đệ tam Quốc tế Cộng sản do đảng CS Liên Xô chỉ huy.  Nhóm thứ hai tuy cấp tiến thiên tả, nhưng không theo chủ nghĩa nào, hoặc chịu ảnh hưởng của tư tưởng Trotsky, được gọi là nhóm Đệ tứ.  Cần chú ý là Đệ Tam QTCS nằm trong hệ thống đảng CS do Liên Xô lãnh đạo, hoạt động theo lệnh đảng.  Đệ tứ QTCS chỉ là một phong trào chính trị, cấp tiến, thiên tả và theo tư tưởng Trotsky, không thuộc đảng phái nào.
Riêng Trần Văn Thạch, ông đậu tú tài Pháp hạng ưu ở Sài Gòn năm 1925, du học Pháp năm 1926.  Tại Pháp, bên cạnh việc học, ông còn hoạt động chính trị chống chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương, nên ông bị viên quyền toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội là Maurice Antoine Monguillot đề nghị với chính phủ Pháp trục xuất về nước năm 1928, nhưng nhờ Hội Bảo vệ Nhân quyền và Dân quyền Pháp can thiệp, ông được ở lại Pháp tiếp tục việc học.
Trần Văn Thạch tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Văn chương Đại học Sorbone (Paris) ngày 2-11-1929, và về nước đầu năm 1930, (Trần Mỹ Châu và Phan Thị Trọng Tuyến, sđd. tr. 61), trước khi xảy ra cuộc biểu tình trước điện Élysée (văn phòng tổng thống Pháp) ngày 22-5-1930, để phản đối nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đàn áp dã man cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Sau cuộc biểu tình nầy, chính phủ Pháp trục xuất 19 nhà hoạt động chính trị ra khỏi nước Pháp, trong đó có nhiều nhân vật thuộc nhóm Đệ tam Quốc tế và Đệ tứ Quốc tế.  Điểm đặc biệt là sau khi về nước năm 1930, các ông không tham gia chính quyền Pháp, không làm quan cho Pháp, mà hành nghề tư nhân tự mưu sinh, nhất là dạy học ở các tư thục.
Sau khi an cư, ổn định cuộc sống, từ 1933 hai nhóm Đệ tam và Đệ tứ công khai liên kết tranh đấu, mở những cuộc diễn thuyết, và xuất báo La Lutte bằng Pháp văn, vì báo tiếng Pháp xin phép dễ ở thuộc địa Nam Kỳ.  Báo La Luttecó mục đích tranh đấu đòi hỏi độc lập cho đất nước và bảo vệ quyền lợi của giới thợ thuyền, ra số đầu ngày 24-4-1933.  Xuất bản được bốn số thì báo tự đình bản ngày 2-6-1933 sau cuộc bầu cử Hội đồng thành phố ngày 7-5-1933.  Trong cuộc bầu cử nầy, Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch đác cử vẻ vang.  Tuy nhiên, thực dân Pháp đã tìm cách loại hai ông ra khỏi Hội đồng ngày 12-8-1933.
Các nhà tranh đấu tiếp tục hoạt động và tái bản báo La Lutte ngày 4-10-1934.  Ngày nầy cũng là ngày chính thức ra mắt mặt trận thống nhứt “La Lutte” (Tranh đấu) giữa hai nhóm Đệ tam và Đệ tứ.  Đây là sự kết hợp duy nhứt giữa Đệ tam và Đệ tứ trong phong trào cộng sản trên thế giới.  Tháng 5-1935, trong cuộc bầu cử Hội đồng thành phố Sài Gòn, các ông Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch và Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai trong nhóm La Lutte lại đắc cử, nhưng Pháp cũng kiếm cách loại bỏ.  Chỉ Trần Văn Thạch đủ điều kiện, còn ở lại Hội đồng nầy.  Do vậy, ông có cơ hội chứng kiến, theo dõi và chống lại những bất công xã hội, can thiệp giúp đỡ dân nghèo và lên tiếng trên báo chí.
Trên tờ La Lutte, ngoài những bài viết về chính trị thời sự, Trần Văn Thạch phụ trách mục thường xuyên  “Petits clous” (Những cây đinh nhỏ), là “mục như câu chuyện hằng ngày trên các nhật báo bay giờ, mục châm biếm chỉ trích chánh sách cai trị… thật là cay chua, mà tế nhị với một bút pháp tinh vi, nhẹ nhàng mà nhức nhối cho những kẻ nào bị Thạch châm biếm, nhức nhối khó chịu như bị đinh đóng vào người.” (Bà Phương Lan, Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu 1906-1945, Sài Gòn, Nxb. Khai Trí, 1973, tr. 223.)
Sự hợp tác Tam-Tứ ở Sài Gòn chưa được bao lâu thì vào đầu 1937, tại Liên Xô, Stalin ra lệnh tiêu diệt những người theo xu hướng Trotsky. Đảng CS Pháp, nhận chỉ thị của Stalin, liền khuyến cáo nhóm CS Đệ tam Việt Nam phải chấm dứt hợp tác với nhóm CS Đệ tứ Việt Nam.  Như thế là cuộc hợp tác CS Tam-Tứ ở Việt Nam chấm dứt và chính thức tan rã ngày 15-6-1937. (Trần Mỹ Châu và Phan Thị Trọng Tuyến, sđd. tr. 77.)  Chỉ còn một mình nhóm Đệ tứ điều khiển báo La Lutte.
Theo chủ trương của lãnh đạo Liên Xô, năm 1939, từ Trung Hoa, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), với bí danh là P. C. Lin, ra lệnh cho đảng Cộng sản Đông Dương (CSĐD) tiêu diệt nhóm Đệ tứ.  Ở Nam Kỳ, nhóm Đệ tứ càng bị nhóm Đệ tam chỉ trích gay gắt hơn khi Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm đắc cử chính thức và Trần Văn Thạch đắc cử dự khuyết vào Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (còn gọi là Hội đồng thuộc địa) tháng 4-1939; trong khi Nguyễn Văn Tạo và nhóm Đệ tam thất bại nặng.  Tuy nhiên thực dân Pháp không thừa nhận các kết quả nầy.

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ ở Âu Châu ngày 3-9-1939, Pháp bắt những người mà Pháp cho là nguy hiểm tại Việt Nam.  Trần Văn Thạch, Nguyễn An Ninh bị bắt năm 1939.  Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai bị bắt năm 1940 và đều bị đày đi Côn Lôn, từ 3 đến 5 năm.  Mãn hạn tù Côn Lôn từ 1943, các ông trở về đất liền, nhưng đều bị biệt xứ và quản thúc tại gia.  Trần Văn Thạch ở Cần Thơ, Phan Văn Hùm ở Tân Uyên (Bình Dương) …
Trong khi đó, từ năm 1940, tình hình chính trị Việt Nam càng trở nên phức tạp với sự xuất hiện của quân đội Nhật Bản.  Nhật vẫn để Pháp cai trị nhưng luôn luôn áp lực nhà cầm quyền Pháp.  Đầu 1945, khi bắt đầu thất bại, chuẩn bị rút quân về nước, Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945.  Chẳng bao lâu sau, ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh.  Quân Nhật ở Đông Dương buông súng.  Mặt trận Việt Minh (VM) do đảng Cộng Sản Đông Dương chỉ huy, nhanh tay cướp chính quyền.
Nắm được quyền lực, VM thi hành triệt để chủ trương giết tiềm lực trên toàn quốc, tức là giết tất cả những ai có khả năng, dù có đảng phái hay không đảng phái, mà không theo cộng sản.  Tại Nam Kỳ, VM bắt giết hết các nhà hoạt động chính trị, kể cả các nhân vật trong nhóm Đệ tứ.  Riêng Trần Văn Thạch bị giết ngày 23-10-1945 tại Bến Súc, Thủ Dầu Một. (Trần Mỹ Châu, sđd. tr. 123.)
Ngoài quyển Le Français correct xuất bản năm 1932, Trần Văn Thạch còn để lại rất nhiều bài báo mà ngày nay chúng ta gọi là tạp ghi bằng Pháp văn trên tờ La Lutte.    Những bài báo nầy được con gái của ông là bà Trần Mỹ Châu sưu tầm trong các văn khố ở Pháp và ở Sài Gòn, gom góp trở lại khá đầy đủ, và do nữ văn sĩ Phan Thị Trọng Tuyến phiên dịch qua tiếng Việt, in thành sách Trần Văn Thạch (1905-1945) – Cây bút chống bạo quyền áp bức mà quý vị đang có trong tay.
Sách gồm hai phần.  Phần đầu là biên niên sử về Trần Văn Thạch với hai bài viết của hai người con của ông, là bà Trần Mỹ Châu và ông Trần Văn Tự.  Là người trong gia đình, tác giả đã đưa ra một số chi tiết lịch sử  mới về Trần Văn Thạch mà các tài liệu trước đây không được rõ ràng chính xác.  Những chi tiết nầy tuy không lớn lao, nhưng rất cần thiết để đính chánh một số sự kiện lịch sử.
Ví dụ, tác giả xác định khi còn ở Patis tuy thiên tả nhưng Trần Văn Thạch chưa phải là Đệ tứ Quốc tế.  Khi về nước và hoạt động với các nhân vật Đệ tứ, ông mới nghiên về Đệ tứ.  Tác giả cũng xác định Trần Văn Thạch về nước đầu năm 1930, trước khi xảy ra cuộc biểu tình trước điện Élysée ngày 22-5-1930.  Điều nầy hoàn toàn khác với các tài liệu về trước.  Quan trọng nhất là nhờ tài liệu gia đình, tác giả xác định Trần Văn Thạch bị giết ngày 23-10-1945 tại Bến Súc, Thủ Dầu Một.  Trước đây, các tài liệu đều  cho rằng Trần Văn Thạch và những người Đệ tứ bị Việt Minh đưa ra Phan Thiết giết tại sông Lòng Sông.
Phần thứ hai là các bài tạp ghi của Trần Văn Thạch trên tờ La Lutte, tranh đấu chống bạo quyền, bênh vực dân nghèo, chống lại những bất công xã hội hoặc châm chọc chế độ Pháp thuộc.  Những bài báo nầy vẽ lại bức tranh xã hội thời Pháp thuộc một cách sinh động bằng những việc thật, người thật, thời gian cụ thể.  Càng đọc, chúng ta sẽ càng thú vị ở chỗ là chúng ta sẽ rất ngạc nhiên là xã hội thời Pháp thuộc không khác gì xã hội hiện nay ở trong nước.  Hai chế độ thuộc vào hai thời đại khác nhau, hai giai đoạn lịch sử khác nhau, hai nhà cầm quyền khác nhau, lại chẳng có gì khác nhau; cũng quan liêu, cũng thối nát, cũng bất công, cũng bóc lột, cũng đàn áp như nhau.  Nguyên do vì hai chế độ nầy đều là hai chế độ thực dân.  Một bên là thực dân ngoại lai, một bên là thực dân nội địa hay tự thực dân (auto-colonisation).
Tuy nhiên nếu đọc thật kỹ sách Trần Văn Thạch (1905-1945) – Cây bút chống bạo quyền áp bức, chúng ta sẽ ngạc nhiên hơn nữa, là ít nhất thời Pháp thuộc, những người bất đồng chính kiến có quyền tỏ bày ý kiến, có quyền tranh đấu bất bạo động, có quyền viết báo, có quyền xuất bản sách báo, có quyền diễn thuyết, tức có quyền tự do ngôn luận.  Chẳng những thế, những người bất đồng chính kiến còn có quyền ứng cử, tức có quyền tự do chính trị.  Đó là chưa kể những quyền tự do khác mà các bài báo của Trần Văn Thạch cũng đề cập đến, như quyền tự do giáo dục, không theo một chủ nghĩa nào, tự do du học; tự do cư trú (không cần có hộ khẩu); tự do mưu sinh; tự do tôn giáo.  Đáng chú ý là dưới thời Pháp thuộc, có hai tôn giáo được thành lập mà không cần xin phép, nhưng vẫn được tự do truyền đạo và hành đạo là đạo Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo, trong khi ngày nay, hai tôn giáo nầy bị truy bức gắt gao tàn bạo.
Riêng Trần Văn Thạch, đề mục “Petits clous” châm biếm, chống đối bạo quyền, chống áp bức bất công của Pháp, vẫn tự do đăng tải thường xuyên trên báo La Lutte, và không bị tù vì những bài báo mình đã viết.  Ngày nay, chuyện nầy không thể xảy ra ở Việt Nam.  Không có nhà văn hay nhà báo nào viết bài chống CS mà không bị tù.  Không có tờ báo giấy nào đăng bài chống CS mà không bị đóng cửa.  Vì vậy trong nước lại xuất hiện báo chui, là những bài báo “chấm com” (như gmail.com, yahoo.com, blog, hay face-book).  Chấm com hiện nay là những cây đinh nhỏ tiếp nối truyền thống của Trần Văn Thạch.
Cuối cùng, trước khi chấm dứt, bài nầy xin ghi nhận công phu sưu tầm, biên khảo và phiên dịch của hai tác giả Trần Mỹ Châu và Phan Thị Trọng Tuyến.  Sách Trần Văn Thạch (1905-1945) – Cây bút chống bạo quyền áp bức là những tài liệu quý giá của nhà cách mạng Trần Văn Thạch, đính chánh những sai lầm trước đây, giúp cho mọi người hiểu biết về xã hội và chính trị thời Pháp thuộc, về đường lối tranh đấu bất bạo động dưới chế độ thực dân, về những biến chuyển lịch sử một giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến động vào cuối thời Pháp thuộc.  Xin hân hạnh giới thiệu sách Trần Văn Thạch (1905-1945) – Cây bút chống bạo quyền áp bức đến quý vị độc giả khắp nơi.
TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 6-9-2014)