Trinh Nữ Maria được truyền tin ''trước hay sau'' ngày đính hôn?

Câu hỏi ở tựa đề hẳn khiến độc giả Kitô hữu ngạc nhiên. Vậy mà có người cho rằng Đức Trinh Nữ Maria ''được đính hôn'' với Thánh Giuse SAU KHI thiên thần Gabriel TRUYỀN TIN cho Nàng!!! Do đó, tôi xin ''tuyên xưng'' NGƯỢC LẠI bằng cách dựa VÀO các BẰNG CHỨNG sau đây:
I- Luật đính hôn của Dothái
Vào thời Trinh Nữ Maria, việc đính hôn (betrothal) được công nhận là hôn nhân HỢP PHÁP ở giai đoạn một. Nhiều ''em gái mới lên SÁU'' đã được Thân Sinh ''gá duyên, gá nghĩa'' dù các em ''chưa'' có trí khôn. Tuy nhiên, em bé được Thân Sinh GẢ (cho chàng nào đó) đương nhiên trở thành VỢ ''hợp pháp'' của chàng ấy.
II- Kinh Thánh
Trinh Nữ ĐÃ ĐƯỢC TIỀN ĐỊNH như Chúa phán với CON RẮN (Satan) ở Vườn Êđen là ''Lời Báo TRƯỚC'' về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc: ''Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ,giữa dòng giống
ngươi và dòng giống người nữ; dòng giống ấy sẽ đạp đầu ngươi, và ngươi sẽ cắn vào gót nó." (Khởi Nguyên 3,15)
Cho nên THÁNH Ý ''AN BÀI'' của Thiên Chúa ĐÃ CHỌN TRƯỚC ''Thánh Gia Thất'' gồm có Trinh Nữ, Chúa Cứu Thế và Dưỡng Phụ Giuse. Một số Thần Học gia Đức dùng các chữ ''Das Gottesgeschenk, Die von Gott Geliebte'' (Quà Thiên Chúa Tặng, Nàng Được Thiên Chúa Yêu Mến) để diễn nghĩa của Danh Xưng MARIA như lời Sứ Thần Gabriel trấn an: ''Maria, đừng sợ! Vì cô được ÂN SỦNG nơi Thiên Chúa!'' Trước khi nói câu vừa nêu, Sứ Thần chào mừng (Ave) Trinh Nữ bằng BIỆT HIỆU do Thiên Chúa đặt: ''GRATIA PLENA!'' (PLEINE GRÂCE! ƠN ĐẦY!)
Người đời còn KÉN CHỒNG cho con, lo TÌM ''môn đăng, hộ đối'' về mặt văn hóa, lý tưởng, đạo đức... để cuộc sống hôn nhân của con mình được BỀN VỮNG thì huống chi Thiên Chúa Toàn Năng! YÊU MẾN Trinh Nữ quá chừng như lời Nàng tung hô, cảm tạ: ''Vì Ðấng Toàn năng đã LÀM cho tôi những điều CAO CẢ.'' thì Thiên Chúa ''tiếc gì'' mà chẳng TIỀN ĐỊNH cho Nàng người CHỒNG ''TÂM ĐẦU, Ý HỢP'' cùng Nàng!?
III- Văn phạm trong Luca 1,26-27
Để chứng minh Trinh Nữ ĐƯỢC đính hôn TRƯỚC ''Ngày Truyền Tin'', tôi xin phân tích VĂN PHẠM và một số từ quan trọng ở Luca 1,26-27 bằng các tiếng sau đây:
Tiếng Anh và một số tiếng khác
Xin chọn tiếng Anh trước BỞI LẼ dễ phân tích văn phạm tiếng ấy vốn rất thông dụng.
''And in the sixth month the ANGEL Gabriel WAS SENT from God into a city of Galileenamed Nazarethto a virgin BETROTHED TO a man whose name was Josephof the house of David; and the virgin's name was Mary.''
1- Phân tích mệnh đề
The sentence (Câu) ''And … David;'' has TWO clauses (có HAI mệnh đề) as follows (như sau):
a- The main clause (Mệnh đề chính)
''And in the sixth month the ANGEL Gabriel WAS SENT from God into a city of Galileenamed Nazarethto a virgin BETROTHED TO a man (Thế là, vào tháng thứ sáuthiên thần Gabriel được Thiên Chúa PHÁI đến một thành của Galilê, tên (là) NadaretTỚI NHÀ một trinh nữ đã đính hôn VỚI người đàn ông'')
b- The subordinate clause (Mệnh đề phụ)
''whose name was Josephof the house of David;'' (tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít;) is a ''RELATIVE clause'' (mệnh đề QUAN HỆ), introduced by the RELATIVE pronoun WHOSE (được giới thiệu bằng ''đại từ QUAN HỆ sở hữu WHOSE), also called (cũng được gọi là) an ADJECTIVE clause (mệnh đề TÍNH TỪ), qualifying (modifying, qualifier of, modifier of ) ''a man'' (bổ nghĩa cho chữ ''a man: một người'') in the main clause. (trong mệnh đề chính.)
2- Phân tích từ ngữ quan trọng
a- Động từ ''WAS SENT'' (đã được phái) là ''CHÌA KHÓA'' MỞ CỬA TRỜI để chương Trình TÂN SÁNG THẾ khai mạc!
b- Danh từ ''một trinh nữ'' (a virgin) là ''nhà, nơi'' mà Gabriel ĐƯỢC PHÁI đến.
c- BETROTHED là ''QUÁ KHỨ phân từ ở thể bị động'' (PAST / PERFECT particple passive) được dùng để chỉ việc ĐÃ XẢY RA. Nhưng, khi được dùng sau chữ ''a virgin'' (trinh nữ), quá khứ phân từ ''betrothed: đã được đính hôn'', cùng với nhóm chữ ''to a man: với người đàn ông'', tạo thành ''ngữ tính từ'' (adjective phrase) bổ nghĩa cho (qualiier of) ''a virgin'': một trinh nữ.
d- Nhóm từ ''in the sixth month'' (vào tháng thứ sáu) là ''trạng ngữ THỜI GIAN'' (adverb phrase of TIME) bổ nghĩa cho (modifier of) động từ ''ĐÃ ĐƯỢC PHÁI'' (was sent), khẳng định thêm rằng việc Trinh Nữ được ĐÍNH HÔN VỚI GIUSE là sự kiện xảy ra TRƯỚC Ngày Truyền Tin! Hay nói cách khác, Thánh Luca DÙNG trạng ngữ ''vào tháng thứ sáu'' để chứng minh rằng, vào THÁNG ẤY, có Biến Cố Truyền Tin cho Trinh Nữ ĐÃ đính hôn TRƯỚC ĐÓ RỒI.
IV- Biến đổi ''ngữ tính từ '' thành ''mệnh đề tính từ''
A- Hàng chữ viết lớn là ''NGỮ tính từ''
''And in the sixth month the angel Gabriel was sent to a virgin BETROTHED TO A MAN,''
B- Hàng chữ viết lớn là ''MỆNH ĐỀ tính từ'' bắt đầu bằng chữ WHO:
''And in the sixth month the angel Gabriel was sent to a virgin WHO HAD BEEN BETROTHED TO A MAN,''
Giờ đây, ''had been betrothed'' là động từ ở THÌ TIỀN QUÁ KHỨ (pluperfect; plus-que-imparfait), chứng tỏ rằng Thánh Luca viết theo cách A ngắn gọn và hay hơn cách B.
C- Xin dịch cách B sang tiếng Pháp
''Au sixième mois, l'ange Gabriel fut envoyé chez une vierge QUI AVAIT ÉTÉ FIANCÉE À UN HOMME,'' (Hàng chữ lớn là mệnh đề TÍNH TỪ (NHƯ trong văn phạm tiếng Anh), có ''avait été fiancée'' là TIỀN quá khứ, chỉ sự việc xảy ra TRƯỚC Ngày Truyền Tin.)
V- Nguyên Giáo Hoàng Bênêđictô XVI dịch Luca 1,26-27
Theo văn phạm tiếng Đức, cách dịch của nguyên Giáo Hoàng cũng cho thấy rằng Trinh Nữ được đính hôn TRƯỚC Ngày Truyền Tin như sau: ''Im sechsten Monat wurde der Engel Gabriel von Gott in eine Stadt in Galiläa namens Nazaret zu einer Jungfrau gesandt. (*) Sie WAR mit einem Mann namens Josef VERLOBT, der aus dem Haus David stammte. Der Name der Jungfrau war Maria.'' (Trích từ cuốn ''BENEDIKT XVI. DIE HEILIGE SCHRIFT- Meditationen zur Bibel'')
VI- Chữ ''desponsatam'' (ĐÃ đính hôn) trong bản Latinh
Động từ Latinh ''desponsare'' có ''phân từ'' là ''desponsatum'' như trong cách thường học thuộc lòng: desponso, as, avi, atum, are. Phân từ ''desponsatum'' trở thành TÍNH TỪ như chữ ''betrothed'' của tiếng Anh và chữ ''fiancé'' của tiếng Pháp khi nó bổ nghĩa cho danh từ hay đại từ nào đó.
Theo bản dịch bằng tiếng Latinh Luca 1,27, danh từ ''virginem'' (trinh nữ) ở ''accusative'' (đối cách) cho nên ''desponsatam'' cũng là ''accusative'', ở giống cái.
Xin mời đọc nguyên văn Latinh: In mense autem sexto missus est angelus Gabriel a Deo in civitatem Galilaeaecui nomen Nazareth, ad virginem DESPONSATAM virocui nomen erat Ioseph de domo David, et nomen virginis Maria.
Gọi DESPONSATAM là TÍNH TỪ như ''betrothed, fiancée'' bởi vì NÓ được dùng để MIÊU TẢ (describe) người, vật, sự vật hay ý tưởng nào đó. Chữ ''desponsatam'' còn được người Anh gọi bằng một trong những cách sau đây: qualificative (qualifying) descriptive, classifying adjective. Như vậy, Trinh Nữ được ''phân hạng'' (classified) cùng với ''thiếu nữ đã được GẢ'' hay đã CÓ CHỒNG như trong Mat. 1,24: ''Tỉnh giấc, Giuse làm như lời Sứ Thần của Chúa đã truyền lệnh cho ông NÊN ông rước VỢ MÌNH về nhà.''
VII- Chữ ''ἐμνηστευμένην'' (emnēsteumenēn) trong bản Hylạp
Động từ Hylạp ''μνηστεύω'' (betroth) có quá khứ phân từ ''ἐμνηστευμένην'' (ĐÃ được gả) ở ''đối cách, giống cái'', cũng được dùng làm tính từ MIÊU TẢ như trong tiếng Anh, Pháp, Latinh.
Nguyên văn Hylạp trong Luca 1,26-27: Ἐν δὲ τῷ μηνὶ τῷ ἕκτῳ ἀπεστάλη ὁ ἄγγελος Γαβριὴλ ἀπὸ τοῦ θεοῦ εἰς πόλιν τῆς Γαλιλαίας ᾗ ὄνομα Ναζαρὲθ πρὸς παρθένον ἐμνηστευμένην ἀνδρὶ ᾧ ὄνομα Ἰωσὴφ ἐξ οἴκου Δαυίδ, καὶ τὸ ὄνομα τῆς παρθένου Μαριάμ.
VIII- Nếu cho rằng Trinh Nữ SẼ được GẢ cho Thánh Giuse SAU Ngày Truyền Tin?
Lập luận như thế thì:
1- Tôi không hiểu Ý Chúa qua Luca 1,26 bởi vì Thánh Nhân KHÔNG dùng ''thì tương lai trong quá khứ'' (the future in the past; le futur dans le passé) như dưới đây. (Xin viết bằng tiếng Anh, Pháp.)
a- Tiếng Anh: … to a virgin who WOULD be betrothed to a man...
b- Tiếng Pháp: … chez une vierge qui SERAIT fiancée à un homme...
2- Tôi KHÔNG tin Giáo Lý của Hội Thánh về Mẹ Maria đã đính hôn TRƯỚC Ngày Truyền Tin.
3- Vô hình trung tôi ''xuyên tạc'' rằng Trinh Nữ đang mang Thai, mà ''cố tình giấu'' người yêu là Thánh Giuse để ĐƯỢC ''đính hôn'' với Chàng, khiến ai đó CÀNG thấy tôi có lý NẾU họ KHÔNG hiểu Lời Chúa trong Matthêô 1,18-19: ''Maria, Mẹ Ngài ĐÃ đính hôn với Giuse. TRƯỚC khi hai người sống chung thì Nàng có thai do quyền năng của Thánh Thần. Giuse, chồng Nàng, là người công chính nên không muốn tố giác Nàng, bèn quyết định âm thầm bỏ nàng.''
4- Tôi KHÔNG tin vào Quyền Năng An Bài Nhiệm Mầu của Thiên Chúa trong việc Ngài CHỌN ''Thánh Mẫu và Thánh Dưỡng Phụ'' cho RIÊNG Chúa Cứu Thế. (Nam nữ Tu Sĩ còn biết HIẾN DÂNG cả ''tâm hồn, thân xác, đời mình'' cho Chúa thì HUỐNG CHI là ''Nàng-Ơn-Đầy'' và ''Chàng-Công-Chính'' là Gương Mẫu tuyệt vời cộng tác vào Chương Trình Cứu Rỗi!)
5- Tôi KHÔNG tin Biến Cố Truyền Tin TRỌNG ĐẠI (mà CHẲNG ai biết), được Trinh Nữ KỂ LẠI thì Thánh Luca mới rõ TƯỜNG TẬN như ngài viết trong phần ''Lời Tựa'' cho Thiôphilô! (Luca 1,1-4) và CHẲNG tin vào Thánh Linh đã HƯỚNG DẪN văn phong tuyệt vời của Thánh Luca!
IX- Lời kết
''Thánh'' Trinh Nữ có ''Thánh'' Biệt Hiệu ''Ơn Đầy'' và ''Thánh'' Dưỡng Phụ Giuse ĐỀU vâng theo ''Thánh'' Chỉ của Thiên Chúa ngõ hầu Đấng ''Thánh'' Giêsu có ''Thánh'' Gia Thất để ''thánh'' hóa trần gian! Việc Trinh Nữ đính hôn với Thánh Giuse TRƯỚC Ngày Truyền Tin CŨNG DO ''Thánh'' Ý Tiền Định của Thiên Chúa!!!
Ghi chú:
(*) . ''Sie WAR mit einem Mann namens Josef VERLOBT,...'': Trước chữ ''Sie'' (Nàng) là dấu chấm vì Nguyên Giáo Hoàng chứng tỏ điều nầy: ''Sứ Thần được phái đến một Trinh Nữ. Nàng ĐANG ở 'tư thế' là người ĐÃ được đính hôn!'' Xin dịch câu ấy sang tiếng Pháp: ''Elle était fiancée à un homme...'' Như vậy, ''était fiancée'' là ''imparfait de description'': quá khứ dùng để miêu tả.
Đức Quốc, 18.9.2014
Đaminh Phan văn Phước