ĂN “NOÁI”

Đọc nhan đề như rứa, chắc bạn biết ngay tui là người ở cái xứ mô rồi chơ chi nữa!
Dạ xin thưa: quê cha của tui ghi trong giấy khai sinh là chánh quán làng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, quê Mẹ là làng La Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Rứa vị chi tui là dân Huế chay 100%. Mà đã là dân Huế thì không bao giờ “Nói”, chỉ “Noái” mà thôi. Bao nhiêu chữ vần “OI” dân Huế đều đổi thành “OAI” hết cho nó oai. Ví dụ “Hỏi” thì dân Huế phát âm thành “Hoải”, “Coi” thành “Coai”, "Đòi" thành "Đoài" vv…
Vậy nếu có lúc nào bạn đến thăm cô nàng nào dân Huế mà thấy cô mắt nhắm, mắt mở, tóc tai lòa xòa, nước mắt, nước mũi tùm lum, ra chào bạn mà toe toét cười “noái”: “Khoái quá khoái quá!” thì bạn ơi, đừng vội tưởng lầm rằng thì là cô ta khoái gặp mặt bạn, mà “a thần phù” nhảy vào thì ăn đòn ngay đấy bạn ạ. Cô ta đang làm bếp mà khói bay vào mắt nên cô ta bảo là “Khoái”quá! “Khoái” đây tức là ngọn khói trong câu ca:
Trên đường về nhớ đầy, nhớ nhà châm điếu thuốc, khói huyền bay lên cao.”
Khổ như rứa đó! Dân Việt Nam ta chỉ có 3 miền: Bắc, Trung, Nam mà ngôn ngữ đã khác hoắc, chẳng trách gì dân Tàu mỗi vùng nói một thứ tiếng: tiếng Tiều, tiếng Quảng, tiếng Hẹ vv… không ai hiểu ai, nếu không bày đặt ra tiếng phổ thông Quan Thoại.
Ăn” được liệt vào đệ nhất khoái trên trần đời, mà ăn thì thường đi chung với “Nói” nên “Nói” là một nhu cầu hàng đầu trong cuộc sống. Con nít vừa ăn lễ “thôi nôi” xong là đã bắt đầu bập bẹ nói. Có rất nhiều cách “Nói”. Tôi nhớ vào khoảng năm 1963 hay 1964 gì đó, có một ông nhà văn, tôi quên mất tên (Khổ quá, tra rồi nên noái trước quên sau!) có viết một “thiên khảo cứu” về chữ “NÓI” gồm có mấy trăm, mấy ngàn chữ gì đó liên quan đến chữ “NÓI” và ông thách đố nếu ai đưa ra được một chữ “Nói” mà ông không đề cập đến thì ông chịu thua một số tiền khá lớn. Tôi lại quên mất tiêu là bao nhiêu. Tôi cũng lại không nhớ là có ai thắng cuộc thách đố ngộ nghĩnh này không. Nhân thể, tôi cũng xin đưa ra một danh sách ngắn về những chữ “Nói” mà tôi nhớ được như sau và tôi không dám thách đố gì hết vì tôi nhớ đâu viết đó, chứ không sưu tầm như ông nhà văn và khảo cứu gia nọ. Này nhé:
Nói như sanh như sứa, nói toạc móng heo, nói lung tung, nói tầm bậy, tầm bạ mà trúng tùm lum tà la, nói như dùi đục chắm mắm nêm, nói bẻ que không kịp, nói láu táu, nói huyên thuyên, nói dốc tổ, nói ngọng, nói nghịu, nói văng bọt mép, bọt mồm, nói tía lia cái lỗ miệng, nói xiêng, nói xẹo, nói xỏ nói xiêng, nói liên miên bất tận, nói liên tu, liên tồn kỳ trận, nói vung tàng tán, nói vung xích chó ,nói cà lăm cà cặp, nói bập bẹ, nói lắp bắp, nói láp nháp, nói miệng không kịp đâm da non, nói dở, nói dài, nói dai, nói kiến trong hang bò ra, nói thiên, nói địa, nói ba hoa chích chòe, nói lung tung xòe, nói lầu bầu trong miệng, nói nhảm, nói nhí, nói leo, nói rờ rờ, nói có sách mách có chứng, nói tào lao xịt bộp, nói ba hoa thiên địa, ăn tục nói phét, nói thỏ thẻ, ăn nói ngọt ngào vv….
Noái chi mà nóai dữ rứa! Thôi, tui không noái nữa! Các bạn có ai còn chữ mô về “Nói” nữa thì viết ra cho bà con thiên hạ nghe chơi cho vui. Xin tiếp tục loạn bàn về chữ “NÓI”:
Lúc con vừa khôn lớn, các bậc làm Cha, làm Mẹ bao giờ cũng dạy bảo con phải học ăn, học nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” Tiếng Tây có câu: “Il y a des vérités qui ne sont pas bonnes à dire!” (Có những sự thật không nên nói ra.) Chẳng hạn, tôi hỏi bạn: Những gì tôi viết ra từ nãy đến giờ bạn thấy ra răng?
Nếu thẳng như ruột ngựa Thượng Tứ, bạn phán cho 2 chữ: “Dở ẹt!” thì chắc là tôi sẽ giận bạn ít nhất là 3 ngày không thèm dòm mặt bạn, mặc dù tôi biết bạn “noái” đúng.
Lại có những câu răn dạy như: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe!” cũng tương tự như cha mẹ thường cấm con nít không đựoc “nói leo”, tức là nói chen vào câu chuyện của người lớn. Đây mới thật là khó vâng lời vì nhiều khi ngứa miệng không thể chịu được, vì mình biết rõ ràng vấn đề, mình thấy rõ mười mươi, mà cấm mình nói ra thì thật là bất công vô cùng và nhiều khi gây tai hại nữa. Có câu chuyện khôi hài, thật 100% như sau:
Cậu con trong lúc ăn cơm cùng với gia đình và trong bửa tiệc này có sự hiện diện của một ông khách quý. Trong lúc người lớn đang vui câu chuyện thì thằng bé lễ phép đưa cao tay như được chỉ bảo ở lớp học mỗi khi muốn phát biểu ý kiến. Ông cha lừ mắt, ngăn không cho cậu bé nói, ý chừng muốn bảo là không được nói leo. Cậu bé ngồi im thin thít, mặt đỏ bừng, ấm ức vì bị người lớn xử hiếp. Một lúc sau ông bố bảo:
Hồi nãy con muốn nói gì bây giờ bố cho phép con nói.
Cậu con lễ phép trả lời mà nước mắt lưng tròng:
Muộn rồi bố ơi, hồi nãy bố gắp mấy cọng rau mà con thấy có con sâu nằm lòng thòng, con muốn nói mà bố không cho phép.
Đấy, tai hại của “không cho phép nói leo”!
Viết về ăn nói mà không nói đến cái nghề của các quan trạng tức là luật sư thì thật là một thiếu sót. Lúc tôi còn học trung học, thỉnh thoảng tôi cùng các bạn học cúp cua đi đến các phiên tòa để được nhìn xem mấy ông luật sư phất tay áo rộng thùng thình trong dáng điệu thật là oai phong và hào hoa như các vị quan đầu triều trong các tuồng hát bội. Tôi say mê phong cách của các ông luật sư, tôi uống từng lời nói văn hoa, những luận điệu chắc như cua gạch, những bắt bí nhau qua từng lời nói, qua từng câu văn, qua từng ngữ vựng, qua những sơ hở trong biện luận. Đúng là mấy ông “Thầy cải” hay “Thầy nói” thì cũng rứa thôi!
Và tôi quyết tâm sau này phải hành nghề luật sư. Không may hay là may cho tôi, ông Nội tôi vốn là một quan tri huyện của Nam Triều đã khuyên tôi không nên theo nghề này vì ông bảo rằng nghề này là một nghề “Chém cây sống, trồng cây chết”, bênh vực cho người này, giúp người này, nhưng mà lại làm hại cho người kia, mà lại còn hại oan nữa, gây ra không biết bao nhiêu là oan khiên, tang tóc trong đời. Và ông dẫn chứng những trường hợp oan oan tương báo xảy ra cho các ông quan tòa và luật sư lúc về già thường mắc chứng khùng điên. Và tôi đã nghe theo lời khuyên của ông Nội tôi, từ bỏ mộng làm Luật sư. Sau này tôi có một ông bạn làm dự thẩm tòa án, ông ta tuyên bố một câu xanh rờn: Đàn bà có hai nghề không nên làm, thứ nhất là Làm đĩ và thứ nhì là làm Luật sư. Ông căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định trên, tôi đã không hỏi ông ta. Và đã tự suy luận lấy, nhưng không muốn viết ra đây sợ nhiều đụng chạm vô ích.
Ngoài ngành nghề luật liên quan đến “Ăn noái”, còn có một nghề khác cũng “ăn nhờ” vào khả năng “noái.” Ấy là nghề “Xướng ngôn viên”. Còn nhớ lúc quê hương đang trong khói lửa chiến tranh, hằng đêm nghe buổi phát thanh “Tiếng nói Dạ Lan”, tôi, dù không phải là chiến binh ngoài trận tuyến, nhưng nghe cô Dạ Lan ỏn thót, ỉ ôi, ngọt như đường cát, mát như đường phèn Quảng Ngãi, dịu mát như đường Thốt Nốt, lòng tôi cũng bâng khuâng để hồn rung động theo từng tiếng thở, tiếng cười, giọng nói của cô Dạ Lan và lòng bỗng dưng chùng xuống cho mộng mơ, cho yêu đương nhung nhớ và tôi mơ ước thành chiến binh để được cô Dạ Lan nhắn gửi những lời yêu đương tình tứ. Chương trình này theo tôi là một chương trình phản chiến, thay vì nâng cao tinh thần chiến đấu của chinh phu ngoài mặt trận thì lại làm nãn lòng chiến sĩ và làm tăng thêm nỗi sầu muộn của chinh phụ ngóng trông chồng trong đêm trường hiu quạnh nhớ mong.
Một năm trở lại đây, một chương trình phát thanh trên NET đã cho nghe một giọng nói dịu êm, mượt mà như nhung lụa, tình tứ như mây tròi trôi trên đỉnh núi, ngọt như không thể nào ngọt ngào hơn, giọng nói Điêu Thuyền mà huynh trưởng của chúng tôi, một lão trượng tuổi ngoài tám mươi đã đặt tên thật nôm na và đầy ý nghĩa: “Giọng nói chết người.”
Để kết thúc cho những lời bàn phiếm về “Ăn Noái”, tôi xin khuyên các bạn nếu muốn vui hưởng tuổi già thì nên ăn tục nói phét như những hội viên của hội ATNP, một câu lạc bộ vừa mới sáng lập và được sự gia nhập khá đông của những người trong hoàng hôn tuổi hạc. Chúng tôi nói phét để “Vui thôi mà” (Chữ của thi sĩ Bùi Giáng mà tôi vừa học mót được) chứ không nói phét kiểu: Quê hương ta “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”, cắm một ống nứa xuống đất là dầu hỏa phun lên khiến vừa rồi một vùng dân cư bị hỏa hoạn tàn phá vì dân chúng dùng dầu phí phạm. Các nước tư bản mà tin lời nói phét này thì quê hương ta lại phải đắm chìm trong khói lửa chiến tranh là cái chắc.
Hoàng Đức
(Viết tại California lúc giá xăng lên hơn 4 dollars một gallon.)
CHUYỆN VUI:

Dạ thưa Làng,
Bằng cách ''hành văn dí dỏm'', Niên Trưởng Hoàng Đức kể chuyện hay ghê, khiến tiểu đệ sao lại bài nớ, cho nó vô nằm trong mục ''Huế dệ thương'' kẻo (nó) mất đi thì ''tội của Trời'', Niên Trưởng Hoàng Đức ơi! Thừa Thiên mà lị, phải không, Anh hè? (Ngày trước, chỉ có Tỉnh Thừa Thiên, chứ không phải: Tỉnh Thừa Thiên-Huế! Trong một thời gian khá lâu, Anh-Chị-Em mình phải viết ''Bình Trị Thiên'' trên bì thư gởi về nhà, mà nghe lòng buồn da diết!)
Thấy NT Hoàng Đức viết nhiều về chữ ''noái'' của Huế, tđ xin ''đóng góp'' chuyện vui như ri:
1- Nì, coai chừng tề!
Hai cấy dôn đi ăn cưới. Ông chồng diện vào người bộ ''veston'' mới may, đôi giày bóng láng mà ruồi đậu vào, cũng bị trượt chân! Bà vợ phải đi phía sau, hơi xa chồng vì ''ốt dột'', cũng để nhìn chồng trong y phục mới. Ông chồng chẳng để ý mấy cục... phân chó (xin lỗi Làng) ở trên đường. Sợ chồng sơ ý đạp lên đó, bà vợ mới la lớn: ''Nì, nì, coai, coai... chừng..., đạp, đạp, đạp..., đạp, đạp, đạp...rồi!!!''
Té ra bà vợ bị ''cà lăm'', khiến chồng ''đạp... rồi'' khi bà nói chưa hết câu....
2- Hỏi giờ
Xe Lam (Lambretta) dừng lại để đón thêm khách. Anh chàng thanh niên (nọ) ăn mặc sang trọng, lên xe. Thấy anh ta có mang đồng hồ, anh chàng kia bèn hoải: ''Mấy giờ rồi, anh?''
Được hoải giờ, anh ''sang trọng'' bèn chìa tay để anh tê xem đồng hồ. Anh-chàng-hoải-giờ mới noái: ''Tui... không... biết.. đọc... mấy... cấy... que... đồng... hồ...''
Thấy anh chàng sang trọng ra vẻ khinh khi người bị ngọng, bà con ''nhà quê'' trên xe mới lên tiếng: ''Anh làm ơn noái cho cậu ta biết mấy giờ đi mà vì cậu ta không biết đọc...!''
Anh chàng sang trọng trả lời: ''Tui..., tui...., mà..., mà..., noái... thì..., nó..., đập..., tui... liền!''
Té ra cả hai người đều cà lăm!