Lời kêu gọi cho Quyền Tự Quyết của Dân Tộc Việt Nam

Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam: Lời kêu gọi cho Quyền Tự Quyết của Dân Tộc Việt Nam
(Bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức)
LS LÊ TRỌNG QUÁT.



 
Bạn thân mến,

Tôi gửi kèm theo đây bản văn Việt ngữ của Lời kêu gọi các giới ngoại quốc viết bằng Anh ngữ và Pháp ngữ đã được gửi đến bạn trong tuần lễ trước để xử dụng ở các quốc gia dùng hai ngôn ngữ này. Tại các nước khác, xin các bạn dịch ra tiếng địa phương để tiện xử dụng trong cuộc vận động các nhân vật bản xứ: Dân biểu, nghị-sĩ, chức trách địa phương, các hội đoàn bản xứ, báo chí, truyền thông dưới các hình thức tiếp cận mà bạn xét là hữu hiệu.

Riêng đối với các cấp lảnh đạo: Tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng,chủ tịch quốc hội, tôi sẽ gửi kèm theo bức thư kêu gọi chung, một thư ngắn riêng cho mổi vị này. Như vậy, vừa lịch sự, vừa trân trọng, vừa thích hợp với từng trường hợp (các chính phủ ký HĐ Paris 1973, và các chính phủ khác). Trong HĐ 1973, ngôn ngữ chính thức là Việt, Anh, trong HĐ Genève là Việt, Pháp ngữ.Tùy theo phản ứng của mổi trường hợp, chúng ta sẽ dự liệu hình thức vận động tiếp, thích nghi.

Giai đoạn 1: Trong vòng 5 tháng từ hôm nay, chúng ta xúc tiến cuộc vận động các nhân vật bản xứ ghi trên đặng chuẩn bị cho cuộc vận động tiếp theo nhằm các giới lãnh đạo.

Giai đoạn 2: Từ tháng 10, vận động các giới lãnh đạo LHQ, Liên Âu và đặc biệt các lãnh đạo các quốc gia ký HĐ Paris. Giai đoạn này có thể ngắn hơn hoặc dài hơn giai đoạn 1, tùy theo sự biến chuyển của tình hình ở quê hương và phản ứng của các vị lãnh đạo. 

Ngoài ra, xin nhắc lại quý bạn trong hai buổi phỏng vấn và nói chuyện trên Đài Việt Nam Hải Ngoại truyền thanh từ Washington được nghe rất nhiều ở Việt Nam, vào hai ngày chủ nhật 11 và 18 vừa qua, mà tôi đã thông báo với quý bạn,tôi đã trình bày lập trường rõ rệt của Phong Trào DTTQVN và kêu gọi thẳng các lãnh đạo Cộng Sản phải lựa chọn một trong hai con đường trước khi quá trể: 

1- trả lại cho đồng bào quyền dân tộc tự quyết để đồng bào qua tổng tuyển cử thiết lập tân chế độ dân chủ, tự do, đủ uy tín huy động toàn dân bảo vệ tổ quốc, thực hiện tương quan liên kết với các nước bạn trong Vùng Thái bình Dương và trên thế giới đặng đảm bảo hòa bình và an ninh trong vùng mà Việt Nam chúng ta là một thành tố quan trọng đang ở trong tình trạng khẩn trương hiểm nghèo. Một Gorbatchev, một Yelsine VN sẽ là một đóng góp lớn cho đại cuộc này và sẽ được dân tộc nhìn nhận công ơn xứng đáng. 

2- tiếp tục bám giử quyền lực, hèn với giặc, ác với dân, thì sẽ phải đền tội nặng nề trước quốc dân không chóng thì chầy như một số cầm đầu độc tài, đảng trị ở Đông Âu, Ả Rập, ………

Những cuộc biểu tình chống Trung Cọng và Việt Cọng đã và còn tiếp diển ở khắp nơi đã nói lên một cách mãnh liệt quyết tâm chống ngoại xâm, chống tập đoàn lãnh đạo cộng sản trong nước.Nhưng ngoại thù và nội thù vẫn còn đấy. Thế giới vẫn chờ xem (wait and see).

Vì vậy, cùng với sự bày tỏ quyết tâm bảo vệ Tổ Quốc, chống Trung Cọng, chúng ta phải tăng cường nỗ lực hổ trợ tối đa đồng bào ở quê hương đứng lên tranh đấu trực diện giành lại quyền làm chủ Đất Nước đồng thời kiên trì, sáng suốt, tích cực tranh đấu ở hải ngoại chống cộng sản và tay sai của chúng, chống mọi hành vi chia rẽ cộng đồng, nổ lực vận động thế giới ủng hộ cuộc tranh đấu của đồng bào trong nước, đòi hỏi các quốc gia ký kết Hiệp Định Paris thục thi sự cam kết của họ bảo đảm quyền Dân Tộc Tự Quyết và các quyền căn bản của nhân dân Miền Nam Việt Nam và toàn thể Dân Tộc Việt Nam bao gồm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải như HĐ Paris đã minh thị. 

Từ bức thư kêu gọi các giới ngoại quốc này, từ các buổi hội họp hội luận trước đây và vừa qua của chúng ta và các buổi nói chuyện của tôi trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình, bạn đã có một số dữ kiện và ý kiến căn bản để giúp bạn vận động các nhân vật, bạn bè ngoại quốc và đồng bào ta. Những ý kiến riêng thêm vào của bạn nẫy sinh hay dự liệu trước lúc hay trong lúc đối thoại của bạn, tùy theo mổi trường hợp,sẽ làm cho buổi tiếp xúc của bạn thêm linh động và thêm phần hữu ích. 

Sau cùng, tôi xin lưu ý bạn sở dĩ tôi phải buộc lòng ghi vài trong những nhiệm vụ chính thức của tôi trong thời VNCH (điều mà xưa nay tôi không muốn làm trong mọi giao dịch) là cốt để cho những giới chức ngoại quốc mà chúng ta sẽ tiếp cận vận động thi hành HĐ Paris trong trách nhiệm của họ, biết rằng tác giả của Thư kêu gọi họ là một thành viên của Chính Phủ VNCH cuối cùng bị bức tử, và Chính phủ VNCH là một phe chính đã ký kết HĐParis có tư cách, quyền hạn, và bổn phận đối với dân tộc VN, đòi hỏi họ thi hành sự cam kết của họ Cố nhiên, không phải đòi mà được dù chúng ta có cơ sở pháp lý vững chắc vì, như chúng ta thừa biết, quyền lợi của các quốc gia vượt lên trên công lý và che đậy lương tâm và đạo đức sơ đẳng của nhân loại. Nhưng chúng ta không thể, không được cúi đầu chấp nhận một tình trạng phi lý, trái luật và vô luân như vậy đối với 90 triệu dân ta trong lúc tổ quốc ta đang lâm nguy vì ngoại thù xâm lược và đồng bào ta ở quê hương đang đối đầu gian khổ với bạo quyền cộng sản trong nước. Tất cả mọi cơ hội, mọi ưu hế, mọi lợi khí, mọi phương tiện khả dụng, đều phải được tận dụng để thực hiện và cụ thể hóa phần đóng góp của cộng động chúng ta ở hải ngoại vào cuộc tranh đấu sống còn của dân tộc. 

Thân mến chào bạn, 
Lê Trọng Quát

Paris, 22 tháng 5, 2014
*********************

Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam
33 rue du Panorama 95800 Cergy – France . ltqvina@google.com

Kính gửi quý Vị:

- Lãnh Đạo và Dân Biểu Nghị Sĩ các Quốc Gia Dân Chủ
- Lãnh Đạo và Dân Biểu Khối Liên Hiệp Âu Châu
- Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
- Tranh đấu cho Tự Do và Nhân Quyền trên Thế giới

Chủ đề: Lời kêu gọi cho Quyền Tự Quyết của Dân Tộc Việt Nam.

Kính thưa quý Vị, Bức màn sắt đã hai lần rủ xuống nước Việt Nam

Lần thứ nhất vào tháng tám 1945, cộng sản VN đã áp lực Vua Bảo Đại thoái vị sau khi ông đã tiếp thu nền độc lập hoàn toàn cho quốc gia ngay khi quân đội Nhật Bản chiếm đóng lãnh thổ, đầu hàng Đồng Minh. Cuộc chiến tranh Việt Nam thứ nhất, thường được gọi là chiến tranh Đông Dương vì lan rộng qua Lào, Miên, chấm dứt với Hiệp Định Genève ngày 20 tháng 7, 1954, phân chia tạm thời Việt Nam ra hai miền Bắc, Nam, ranh giới ở vĩ tuyến 17. Thay vì xây dựng một chế độ dân chủ đặng cho dân chúng có thể, hai năm sau, tham dự một cuộc tổng tuyển cử tự do trên cả nước đặng thống nhất quốc gia chiếu theo Hiệp Định, Cộng sản Bắc Việt đã thiết lập một hệ thống độc tài toàn trị theo mô hình Staline, nhận chìm Miền Bắc VN trong một bể máu với hơn một trăm ngàn nạn nhân của một cuộc cải cách ruộng đất dã man kéo dài nhất trong lịch sử (1953-1956).

Khiếp đảm, non một triệu người Miền Bắc đã vội vàng khăn gói di cư vào Miền Nam nhờ sự qui định của Hiệp Định Genève, tạo thành một cuộc di dân lớn lao nhất từ xưa đến nay ở Việt Nam. Thế nhưng, bọn lãnh đạo cộng sản vẫn còn tham vọng quyền lực, chuản bị ráo riết cuộc chiến tranh thứ hai với mục tiêu sau cùng là thôn tính Miền Nam, bành trướng qua Lào và Cao Miên. Hiệp định hòa binh thứ nhất đã bị vi phạm lanh chóng, lôi cuốn dân tộc Việt Nam vào tấn thảm kịch mới kéo dàihai thập niên: 1956-1975!

Lần thứ hai ngày 30 tháng tư 1975, chúng hoàn tất cuộc xâm chiến Việt Nam Cộng Hòa, dẫm lên Hiệp Định Paris ngày 27 tháng giêng 1973 « chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở Việt Nam » và Văn kiện chung kết ngày 2 tháng 3 , 1973 trong đó , dưới danh nghĩa « Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa », chúng cam kết cùng với mười một chính phủ khác – các chính phủ Pháp, Hoa Kỳ, Anh, Nga Sô, Trung quốc, Gia-nã-đại, Ba lan, Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam VN), Nam Dương, Hung-gia–lợi và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (do CS Bắc Việt dựng lên và giải tán một năm sau khi chúng thôn tính Miền Nam) - trước sự hiện diện của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, cam kết « đảm bảo chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình ở VN, tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc VN và quyển tự quyết của nhân dân Miền Nam VN, và góp phần duy trì và đảm bảo hòa bình ở Đông Dương……… ».

Từ gần 40 năm nay, dân tộc VN tưởng niệm ngày 30 tháng tư đen 1975 bi thảm, ngày từ đấy đất nước của họ đã trở thành một trại giam (goulag) khổng lồ gợi nhớ đến những trại giam của thời Nga Sô những thập niên năm mươi và sáu mươi của thế kỷ trước. Sau khi « giải phóng » Miền Nam VN, non 500.000 người ở Miền Nam, công chức, quân nhân, bác sĩ, nhà báo, nhà văn, tu sĩ, của « chế độ củ » bị tống giam trong khoảng một trăm trại tập trung mạo danh là « trại cải tạo » , nơi nhiều nghìn người đã bỏ mình vì kiệt sức, ngược đãi hay tra tấn. Thời hạn giam giử trung bình, luôn luôn khổ sai, là tám đến mười năm, nhưng người chiếm kỷ lục « thâm niên » là ông Nguyễn Hữu Cầu mới được trả tự do cách đây mấy tuần, sau ba mươi bảy năm ngục tù! Đứng bên cạnh ông, Nelson Mandela chỉ là một bóng mờ nhạt. Trong lúc ấy, ngoài các trại giam, bất cứ người công dân nào cũng có thể bị hành hung, bắt bớ, giam cầm vì bất cứ lý do nào, ngay chỉ vì bày tỏ một ý kiến không thuận lợi cho một chính sách của chính phủ, của đảng cộng sản, hay vì phản đối một việc trưng thu đất đai mà không được bồi thường thỏa đáng.

Nhiều trăm vụ như vậy chà đạp trắng trợn nhân quyền và các quyền công dân căn bản đã được các nạn nhân, các tổ chức bảo vệ nhân quyền, tố cáo với các chính phủ các quốc gia dân chủ trên thế giới, với Liên Hiệp Quốc và gần đây nhất, được trình bày trước Hội Đồng Nhân Quyền, nơi mà oái oăm tột cùng, Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa mới vừa an tọa chểm chệ trong chiếc ghế thành viên chính thức ! Sự kiện phóng thích không điều kiện vài người dân sau nhiều năm giam giữ chỉ nhằm xoa dịu dư luận quốc tế trong lúc sự đàn áp càng khắc nghiệt khắp nước. Có ai có thể tin rằng những người Việt yêu nước biểu tình chống chính sách bành trướng của Trung Cọng nhắm vào Việt Nam, chiếm đóng quân sự quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa, lãnh hải của Việt Nam một cách hợp pháp từ nhiều thế kỷ, lại bị chính nhà cầm quyền Việt Nam đương hành trừng trị nghiêm khắc?

Quá đáng, thật là quá đáng! Tình trạng một Nhà Nước khủng bố như vậy phải được chấm dứt. Gần khắp nơi, từ Bắc chí Nam của đất nước, nông dân và thị dân, thợ thuyền và trí thức, sinh viên trẻ tuổi và cựu đảng viên cộng sản lớn tuổi giác ngộ, tướng lãnh và sĩ quan hưu trí thất vọng về Quân Đội Nhân Dân, tu sĩ Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, tất cả cùng đòi hỏi tự do, dân chủ. Toàn dân Việt nhất quyết hơn bao giờ cả tranh đấu giành lại từ tay các lãnh đạo cộng sản, quyền tự quyết thiêng liêng của mình và sẳn sàng chấp nhận mọi hy sinh. Họ thấu triệt rằng chỉ có đổ máu của mình ra mới tranh thủ được tự do. Nhưng họ không bao giờ quên rằng những quyền lực của thế giới đã kể trên còn có trách nhiệm đối với họ, phải thực thi lời cam kết trong Hiệp Định Paris « đảm bảo sự tôn trọng các quyền căn bản của dân tộc Việt Nam : độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam ………. ». Một sự cam kết cần phải luôn luôn nhắc lại bởi vì một hiệp ước quốc tế không bị trước tiêu (hay vô hiệu- prescription par le temps – statute of limitations) bởi thời gian, không bị hết hiệu lưc (caduc-lapsed) nhờ sự đề kháng kiên trì của người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngoại chống bạo quyền cộng sản xâm lược, tố giác chúng công khai vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris. 

Đương nhiên, mọi hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng, qui luật cơ bản này của công pháp quốc tế, nếu không được áp dụng thì thế giới của chúng ta sẽ không tránh được hổn loạn, sẽ bất ổn kinh niên, lý lẽ của kẻ mạnh luôn thắng thế kẻ yếu, đối với các cá nhân cũng như các dân tộc.

Thưa quý vị Lãnh Đạo và Nghị Sĩ, Dân Biểu các quốc gia dân chủ,

Thưa quý vị Lãnh Đạo và Dân Biểu Liên Hiệp Âu Châu,

Phản ảnh nguyện vọng của 90 triệu đồng bào trong nước, chúng tôi xin gửi đến quí vị -những người có đủ khả năng góp phần vào công cuộc thay đổi số phận của những dân tộc bị áp bức bởi những kẻ cầm quyền của nước họ - lời kêu gọi hổ trợ cuộc chiến đấu cho quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam chúng tôi, bị cướp đoạt lâu nay.

Thưa các Chính Phủ ký kết Hiệp Định Paris về Việt Nam năm 1973,

Chúng tôi thỉnh cầu quý vị thi hành toàn vẹn giờ đây lời cam kết của quí vị đặng chu toàn trách nhiệm của quý vị và cứu nguy một dân tộc, chuộc lại lỗi lầm của quý vị đã không thực hiện trước đây sự cam kết của quý vị, để cho Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, Miền Nam Việt Nam.

Thưa Ngài Tổng –Thư-Ký Liên Hiệp Quốc, Vị tiền nhiệm của Ngài đã chứng giám lễ ký kết long trọng Văn kiện chung kết (Acte Final- Final Act) ngày 2 tháng 3 năm 1973 của Hiệp Định Paris, giờ đây chúng tôi thỉnh cầu Ngài can thiệp với các quốc gia ký kết đặng họ thi hành sự cam kết của họ «trao trả cho dân tộc Việt Nam các quyền quốc gia căn bản cùng với quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam» như đã qui định trong các thỏa hiệp ghi trên.

Thưa các Nhà tranh đấu cho Tự Do và Nhân Quyền trên Thế Giới,

Chúng tôi thỉnh cầu quý vị tăng cường nỗ lực, hổ trợ cuộc tranh đấu của chúng tôi vì các lý tưởng của quý vị cũng là những lý tưởng của chúng tôi, vì giờ đây đã đến lúc dân tộc Việt Nam phải giành lại Tự Do và quyền Dân Tộc Tự Quyết thiêng liêng của mình để xây dựng một vận hội mới cho Dân Tộc và bảo vệ hữu hiệu Đất Nước đang gặp nguy cơ xâm lược.

Paris, ngày 12 tháng 5, 2014
TM Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam

Chủ Tịch

 
LS Lê Trọng Quát
Cựu Quốc-Vụ-Khanh Chính Phủ VNCH
Chủ Tịch các Ủy Ban Nội-Vụ và Quốc-Phòng Quốc Hội VNCH Hội Thẩm Viện Bảo Hiến VNCH


********************
The Movement for the Self-Determination of the Vietnamese People

33 Rue du Panorama, 95800 Cergy – France – ltqvina@gmail.com
Honorable Leaders and Congressmen of Democratic Countries & European Union
Honorable General Secretary of the United Nations
Honorable Defenders of Liberty and Human Rights
Ladies and Gentlemen,
Subject: Appeal of the Vietnamese People for their Self-Determination
Twice, the iron curtain has fallen upon Vietnam.
The first time, in August 1945, the Vietnamese communists forced Emperor Bao Dai to abdicate, though he just recovered total independence for his country, Vietnam, after the surrender of the invading Japanese forces. The first Vietnam War, often called the Indochina War because it had extended to Cambodia and Laos, was ended by the Geneva Agreements of July 20th 1954, which temporarily divided Vietnam into two parts, the North and the South, separated by the demarcation line situated at the 17th parallel. Instead of establishing a democratic regime, allowing the population to freely participate in a free universal suffrage election two years later, with the objective of unifying the whole country as dictated by the Geneva Agreements, the North Vietnamese Communists built a Stalinist type totalitarian regime, sending North Vietnam into bloodshed with over 100,000 casualties, victims of a barbaric agricultural reform as well as the longest in history (1953-1956).
Terrified, about one million North Vietnamese grabbed the first opportunity givenby the Geneva Agreements to migrate to South Vietnam, the largest exodus in Vietnam’s history. But the communist leadership, still hungry for power, actively prepared the Second Vietnam War, with the final objective of invading South Vietnam and to expand into Laos and Cambodia. Hence, the first peace treaty was promptly violated, pulling the Vietnamese people into their second tragedy, one that would last 2 decades: 1956-1975!
The second time, in April 30th 1975, the North Vietnamese Communists achieved their invasion of the Republic of Vietnam, trampling the Paris Agreements of January 27th 1973 which dictated the ending of hostilities and the establishment of peace in Vietnam, as well as the final Act of March 2nd 1973, through which, they gave themselves the designation “Government of the Democratic Republic of Vietnam”, with 11 other governments- France, the United States of America, United Kingdom, Soviet Union, China, Canada, Poland, South Vietnam, Indonesia, Hungary and the Liberation Front of South Vietnam (created by the North Vietnamese communists and dissolved by them one year after their invasion of South Vietnam)- and in the presence of the General Secretary of the Organization of the United Nations, to “guaranty the end of the war, to maintain peace in Vietnam, the respect of the national fundamental rights of the Vietnamese people and the right of the South Vietnamese people to self-determination and to contribute to peace in Indochina and to guaranty…”
Since then, for almost the past 40 years, the Vietnamese people has been mourning that tragic date of April 30 1975, when their country has become a gigantic “gulag”, similar to those in the former Soviet Union of the 50’s and 60’s. After the “liberation” of South Vietnam, nearly 500,000 South Vietnamese, government workers, military personnel, doctors, journalists, writers, priests, of the “former” regime were incarcerated in hundreds of concentration camps, deceivingly called “re-education” centers, where thousands have lost their lives due to exhaustion, abuse and torture. The average forced labor detention time was from 8 to 10 years. However, Mr. Nguyen Huu Cau, just set the record by being released just a few weeks ago, after spending 37 years in prison! In comparison, the injustices against Nelson Mandela seemed almost lenient!
Outside of the camps, Vietnamese citizens can get beaten, arrested, incarcerated for any reason, just because they had expressed discontent with any politics or rulings of the government or the communist party, or if they protested against unfair government land seizing.
Hundreds of cases of flagrant human and civil rights violations have been denounced by victims to various human rights organizations, to democratic governments, to the United Nations and to the Council of Human Rights- where ironically, the Socialist Republic of Vietnam just obtained a seat! The recent conditional release of a few citizens, illegally condemned, after a few years of prison, was granted in an effort to calm the world’s opinion while repression has hardened across the country. Who can imagine that Vietnamese patriots who protested the Chinese expansion over Vietnam- military occupation of the Paracels and part of the Spratleys islands, which legally belong to Vietnam for centuries- were severely penalized by the authorities?
Enough is enough! Such a state terrorism must end. Throughout Vietnam, from north to south, farmers and city dwellers, blue collar and white collar workers, college students and old reformed communist cadres, disappointed retired generals and officers of the Popular Vietnamese Army, Catholic priests, pastors and Buddhist monks, have joined voice to demand liberty and democracy. The entire Vietnamese people has never been more ready to fight to regain their sacred right to self-determination, from the hands of the communist leaders, and this at all costs.
The Vietnamese people is well aware that only by shedding their blood, their liberty will be returned. But they also know that the world’s greatest powers, as mentioned above, must implement their commitment at the Paris Agreements, to “ guaranty the respect of fundamental national rights of the Vietnamese people, independence, sovereignty, unity and integrity of Vietnamese territory, as well as the right of the South Vietnamese people to self-determination…”
A commitment taken at an international treaty, which is still in effect, with no statute of limitation, must be implemented. A commitment that is dear to the Vietnamese living in Vietnam as well as to those living abroad, who have been fiercely denouncing the flagrant violations of the Paris Agreements by the North Vietnamese communists.
An international treaty must be respected and implemented in order to uphold order and justice. It is a basic rule of international law without which, unrest and chaos would inevitably descend on us, where the strong would oppress the weak, among men and among nations.
Honorable Leaders & Congressmen of Democracies & European Union,
You who have the ability to change the fate of the oppressed people of the world by their own leaders, we call upon you on behalf of 90 million Vietnamese, to ask you to support their fight for their sacred right to self-determination.
To the governments that participated in the Paris Agreements of 1975 on Vietnam,
You who have signed your commitment in the Paris Agreements, and did not implement it, allowing the North Vietnamese communists to invade the Republic of South Vietnam, we ask you to implement it, to fulfill your responsibilities and to save an entire people.
Honorable General Secretary of the United Nations,
Your predecessor witnessed the signing of the Final Act of March 2nd 1975 of the Paris Agreements, we ask you to intervene and remind the signatories their obligation to execute and implement their commitment to give back the “Vietnamese people their fundamental national rights as well as to the South Vietnamese population the right to self-determination” as specified in the Paris Agreements.
Defenders of Liberty and Human Rights of the world,
Your ideals and ours are the same. We ask you to intensify your efforts to help the Vietnamese people in their fight to regain their liberty, their sacred right to self-determination, to change their fate and be able to efficiently defend their homeland against foreign annexation.
Paris, May 12, 2014
The Movement for the Self-Determination of the Vietnamese People
The President,


 
Le Trong Quat, Esq
Former Minister of State, Republic of Vietnam
Chairman of the Interior and Defense Committees
at the National Assembly
Justice at the Constitutional Court (RVN)
*****************************************
Mouvement pour l’Autodétermination du Peuple Vietnamien
33 rue du Panorama 95800 Cergy . France – ltqvina@gmail.com
Honorables Dirigeants des démocraties du monde et de l’Union Européenne,
Honorable Secrétaire général del’Organisation des Nations Unies,
Honorables Défenseurs de la Liberté et des Droits de l’Homme,
Objet: Appel du peuple vietnamien pour son droit à l’autodétermination
Mesdames, Messieurs,
Par deux fois,le rideau de fer est tombé sur le Viet Nam.
La première fois, en aout 1945, les communistes vietnamiens ont forcé l’empereur BAO ĐAI à abdiquer, lui qui venait de recouvrer l’indépendance totale de son pays, le Viet Nam, après la capitulation des forces d’occupation japonaises. La première guerre du Viet Nam, souvent appelée guerre d’Indochine parce qu’elle s’était étendue au Cambodge et au Laos, s’est terminée par les Accords de Genève du 20 juillet 1954 qui partagent provisoirement le Viet Nam en deux parties, le Nord et le Sud, la ligne de démarcation se trouvant au 17ème parallèle. Au lieu d’instaurer un régime démocratique pour que la population soit en mesure de participer librement deux ans après au suffrage universel dans tout le pays en vue de sa réunification conformément aux Accords, les communistes Nord vietnamiens ont érigé un système totalitaire de type stalinien, noyant le Nord Viet Nam dans une mare de sang avec plus de cent mille victimes de la réforme agraire la plus barbare et la plus longue de l’histoire (1953-1956).
Terrifiés,près d’un million de Nord Vietnamiens ont saisi la première occasion offerte par les Accords de Genève pour regagner le Sud Viet Nam, constituant l’exode le plus important jamais survenu dans ce pays. Mais les dirigeants communistes, n’ayant pas assouvi leur soif de pouvoir, préparent activement la deuxième guerre avec objectif final, la conquête du Sud et l’expansion vers le Laos et le Cambodge. Ainsi, le premier traité de paix fut-il rapidement violé, entrainant le peuple vietnamien dans sa deuxième tragédie qui allait durer encore deux décennies: 1956-1975!
La deuxième fois, le 30 avril 1975, ils ont achevé leur invasion de la République du Viet Nam, foulant aux pieds l’Accord de Paris du 27 janvier 1973 « sur la cessation des hostilités et le rétablissement de la paix au Viet Nam » ainsi que l’Acte final du 2 mars 1973, par lesquels ils s’étaient engagés sous la désignation « gouvernement de la République démocratique du Viet Nam » avec onze autres gouvernements - ceux de la France, des États-Unis d’Amérique, du Royaume-Uni, de l’URSS, de la Chine, du Canada, de la Pologne, de la République du Viet Nam (Sud Viet Nam), de l’Indonésie, de la Hongrie et du Front de libération du Sud Viet Nam (créé par les communistes nord -vietnamiens et dissous par eux-mêmes un an après leur invasion du Sud VN) - et « en présence du Secrétaire général de l’Organisation des Nations Unies », à « garantir la cessation de la guerre, le maintien de la paix au Viet Nam, le respect des droits nationaux fondamentaux du peuple vietnamien et le droit de la population sud-vietnamienne à l’autodétermination et à contribuer à la paix en Indochine et la garantir……… ».
Ainsi, depuis près de 40 ans, le peuple vietnamien a-t-il commémoré cette date tragique du 30 Avril, 1975, à partir de laquelle son pays est devenu un immense goulag rappelant celui de l’URSS des années cinquante et soixante du siècle dernier. Après la « libération » du Sud Viet Nam, près de 500.000 Sud-Vietnamiens, fonctionnaires, militaires, médecins, journalistes, écrivains, prêtres, de « l’ancien régime » furent incarcérés dans une centaine de camps de concentration faussement appelés centres de « rééducation » où des milliers ont perdu leur vie, épuisés, maltraités ou torturés. La durée moyenne de détention, toujours à travaux forcés, était de huit à dix ans mais le champion en durée d’emprisonnement, Mr Nguyễn Hữu Cầu venait d’être libéré, il y a quelques semaines, après trente-sept ans de prison! À ses côtés, l’illustre Mandela aurait certainement pâli! À l’extérieur des camps, en même temps, tout citoyen peut être bastonné, arrêté, incarcéré pour n’importe quelle raison, juste pour avoir exprimé un avis défavorable à une politique quelconque du gouvernement, a fortiori du parti communiste ou simplement protesté contre une expropriation de terrain non suivie d’une juste indemnisation.
Des centaines de ces cas typiques marquant de flagrantes violations des droits de l’homme et des droits civiques fondamentaux ont été dénoncées par les victimes, par différentes organisations de défense des droits de l’homme, aux gouvernements démocratiques du monde, à l’ONU, et tout dernièrement présentés au Conseil des droits de l’homme où, au comble de l’ironie, la République socialiste du Viet Nam venait de s’installer officiellement et confortablement à son siège! La récente libération conditionnelle de quelques citoyens illégalement condamnés après des années de détention n’a eu lieu que pour tenter de calmer l’opinion internationale alors que la répression durcit partout dans le pays. Qui peut croire que les patriotes vietnamiens qui se sont manifestés contre l’expansionnisme chinois visant leur pays – occupation militaire chinoise des presqu’iles Paracels et d’une partie des Spratleys appartenant légalement au Viet Nam depuis des siècles – furent réprimés sévèrement par le pouvoir vietnamien en place?
Trop, c’est trop! Un tel terrorisme d’État doit être terminé. Un peu partout du nord au sud du pays, paysans et citadins, ouvriers et intellectuels, jeunes étudiants et vieux cadres communistes repentis, généraux et officiers retraités et déçus de l’Armée Populaire Vietnamienne, prêtres catholiques, pasteurs et moines bouddhistes, ont conjugué leurs voix et réclamé liberté et démocratie. Le peuple vietnamien tout entier est plus que jamais décidé à combattre pour reprendre son droit sacré à l’autodétermination, des mains des dirigeants communistes, et résolument prêt à accepter tous les sacrifices.
Il sait pertinemment que seulement de son sang versé, la liberté lui sera rendue. Mais il n’ignore jamais que les puissants de ce monde, ci-dessus cités ,lui doivent de mettre en exécution leur engagement dans les Accords de Paris, à « garantir le respect des droits nationaux fondamentaux du peuple vietnamien à savoir l’indépendance, la souveraineté, l’unité et l’intégrité territoriale du Viet Nam, ainsi que le droit de la population sud-vietnamienne à l’autodétermination…… » Engagement que, sans cesse, il est besoin de rappeler parce qu’il s’agit ici d’un traité international qui ne souffre d’aucune prescription par le temps, qu’en l’occurrence il n’y a absolument pas de cause susceptible d’invoquer la caducité, compte tenu de la résistance opiniâtre contre le pouvoir de l’envahisseur communiste depuis des décennies, venant des Vietnamiens résidant à l’intérieur et à l’extérieur de leur pays, dénonçant ouvertement les violations flagrantes des Accords de Paris par les communistes Nord-Vietnamiens.
En effet, tout traité international doit être respecté, règle de base du droit international sans l’observation de laquelle, notre monde serait voué ìnéluctablement au désordre, à son instabilité chronique, à la raison du plus fort au détriment des faibles, pour les hommes comme pour les nations.
Aux Honorables dirigeants des démocraties du monde et de l’Union Européenne,
À vous qui détenez la capacité de contribuer au changement du sort des peuples opprimés par leurs propres dirigeants, nous nous faisons l’écho de 90 millions de Vietnamiens pour demander votre soutien à leur combat pour leur droit à l’autodétermination si longtemps confisqué.
Aux Gouvernements, signataires des Accords de Paris de 1975 sur le Viet Nam,
À vous qui avez signé votre engagement dans les Accords de Paris, nous demandons de l’exécuter entièrement maintenant, pour remplir votre responsabilité et sauver un peuple tout en rachetant votre fatal manquement d’alors à les faire appliquer, permettant ainsi aux communistes nord-vietnamiens d’envahir la République du Viet Nam.
À L’Honorable Secrétaire général des Nations Unis,
À vous dont le prédécesseur a témoigné la signature solennelle de l’Acte Final du 2 mars 1975 des Accords de Paris, nous demandons votre intervention en rappelant aux signataires leur obligation d’exécuter leur engagement pour rendre « au peuple vietnamien ses droits nationaux fondamentaux ainsi que le droit de la population sud-vietnamienne à l’autodétermination » tels qu’ils étaient spécifiés dans lesdits Accords.
Aux Défenseurs de la liberté et des droits de l’homme partout dans le monde,
Nous vous demandons d’intensifier vos efforts et soutenir notre combat car vos idéaux sont les nôtres et qu’il est grand temps pour le peuple vietnamien de recouvrer entièrement sa liberté et son droit sacré à l’autodétermination pour changer son destin et assumer efficacement la défense de leur pays en danger d’annexion.
Paris, le 30 Avril 2014
P. Le Mouvement d’Autodétermination du Peuple Vietnamien Le Président,


 
Me LE TRONG QUAT
anc. Ministre d’État, République du Viet Nam
Président des Commissions de l’Intérieur
et de laDéfense à l’Assemblée Nationale, RVN
Conseiller à la Cour Constitutionnelle, RVN
Bản tiếng Đức

Bewegung für Selbstbestimmungsrecht des vietnamesischen Volkes

33 rue du Paronama 95800 Cergy, France – ltqvina@gmamil.co 
Sehr geehrte Regierende und Abgeordnete der demokratischen Staaten in der Welt und in der Europäischen Union
Sehr geehrter Hr. Generalsekretär der Vereinten Nationen
Sehr geehrte Freiheits- und Menschenrechtsverfechter/innen

Btr.: Aufruf des vietnamesischen Volkes für sein Selbstbestimmungsrecht

  
Sehr geehrte Damen und Herren,
  
zweimal in der Landesgeschichte muss das Volk Vietnams unter dem eisernen Vorhang erleiden.

Das erste Mal war im August 1945, als die vietnamesischen Kommunisten den Kaiser Bảo Đại zur Thronabdankung gezwungen haben. Damals hat Bảo Đại die volle Unabhängigkeit des Landes gerade aus den Händen der japanischen Besetzer zurück gewonnen. Der erste Vietnamkrieg wird oft als indochinesischen Krieg genannt, weil er sich bis in die Grenze von Laos und Kambodscha verbreitet hat. Der Krieg kam zu Ende mit dem Genfer Abkommen vom 20. Juli 1945. Das Genfer Abkommen teilte Vietnam provisorisch in zwei Teilen, dem Norden und dem Süden, bei dem 17. Breitengrad. Anstatt ein demokratisches Regime zu installieren, um, wie es im Abkommen vorgesehen hat, der Bevölkerung die freie Wahl zur Wiedervereinigung des Landes in zwei Jahren zu ermöglichen, haben die Kommunisten im Norden eine stalinistische Diktatur errichtet, die das Nordvietnam in eine Blutlache mit über einen hunderttausenden Toten durch eine barbarische und langandauernde Agrarreform (1953-1956) versetzt.

Völlig erschrocken flüchteten damals nahezu ein Million Nordvietnamesen nach Südvietnam. Sie nützten dabei die dazu vom Abkommen gebotene Gelegenheit und verursachten damit einen nie da gewesenen Exodus im Lande. Die machtbesessenen Kommunisten im Norden bereiteten aber intensiv ihren Expansionsplan vor: den zweiten Vietnamkrieg zu beginnen, um den Süden samt Laos und Kambodscha zu erobern. Das erste Friedenabkommen wurde damit bald mit Füssen getreten und die vietnamesische Bevölkerung in die zweite Tragödie hineingeführt, welche noch zwanzig Jahre andauerte (1956-1975).

 Am 30. April 1975 übernahmen die Kommunisten aus dem Norden die Macht über die Republik Vietnam (RVN) im Süden. Wiederum haben sie damit das zweite Abkommen, die Pariser Vereinbarung vom 27. Januar 1973 zur „Beendigung der Feindseligkeit und Wiederherstellung des Friedens in Vietnam“ und ihre Schlussakte vom 2. März 1973 vergewaltigt. Die beiden Dokumente sind von ihnen im Namen der „Regierung der Demokratischen Republik Vietnams“ mit elf weiteren Regierungen – China, Frankreich, USA, Großbritannien, UdSSR, Kanada, Polen, Republik Vietnam (Südvietnam), Ungarn, Indonesien und die Befreiungsfront Südvietnams (von den Kommunisten im Norden gegründet und von ihnen ein Jahr nach der Machtübernahme über Südvietnam selber aufgelöst) – unterschrieben. Vor der Anwesenheit des Generalsekretären der Vereinten Nationen versicherten alle Beteiligten darin ihren Beitrag „zur Beendigung des Krieges, Bewahrung des Friedens in Vietnam, Respektierung der fundamentalen Nationalrechte der Volkes Vietnams und des Selbstbestimmungsrechtes der südvietnamesischen Bevölkerung, sowie zur Einhaltung des Friedens in Indochina…“.

Seit nahezu 40 Jahren gedenkt das vietnamesische Volk immer wieder des tragischen Datums vom 30. April 1975, des Zeitpunktes, wo das Land in einen riesigen Gulag – es erinnert an das Netz der Arbeitslager in der UdSSR in den fünfziger und sechziger Jahren des 20. Jahrhundertes - umgewandelt worden ist. Nach der „Befreiung“ des Südvietnams wurden ein halbe Million Südvietnamesen: Beamte, Militär, Ärzte, Journalisten, Schriftsteller, Geistliche… des „alten Regimes“ in die hunderten vom Konzentrationslagers – die sog. „Umerziehungslager“ – gesteckt. Dort haben tausende von ihnen wegen Erschöpfung, Misshandlung oder Folterung das Leben verloren. Der durchschnittliche Lageraufenthalt beträgt acht bis 10 Jahren. Die Gefangenschaft von Hr. Nguyễn Hữu Cầu, einem Offizier der südvietnamesischen Armee, hat aber bis zu 37 Jahren gedauert. Er wurde gerade vor ein paar Wochen entlassen! Im Vergleich zu seinem Fall würde die Haftzeit der berühmten Nelson Mandela nur eine Schatte sein. In gleicher Zeit ist das Schicksal der Bevölkerung außerhalb der Lager auch nicht besser. Jeder Bürger muss damit rechnen, zu jeder Zeit verprügelt, festgenommen und inhaftiert zu werden und zwar aus irgendeinem Grund, von der einfachen Kritik gegen die Politik der kommunistischen Partei oder der Regierung bis zum friedlichen Protest gegen die ungleiche Behandlung bei der Enteignung ihrer Ländereien.

Hunderte von solchen eklatanten Fälle über Verletzung von fundamentalen Menschen- und Bürgerrechten wurden von den Opfern selber und den verschiedenen Menschenrechtsorganisationen vor der Öffentlichkeit der demokratischen Ländern, vor der Vereinten Nationen und neulich vor dem Rat der Menschenrechte der Vereinten Nationen, in dem die Sozialistische Republik Vietnams höchst ironischer Weise eine Mitgliedschaft gerade bekommen hat, geprangert. Die neulich von Hanoi-Regierung bedingte Entlassung einiger illegal inhaftierten Bürger nach mehreren Haftjahren war nur ein Versuch, die internationale Öffentlichkeit zu täuschen, während sie ihre Unterdrückungspolitik im Lande mit ungeminderter Härte fortführt. Wie kann man verstehen, dass die vietnamesischen Bürger, die gegen die chinesische Expansionspolitik – gegen dessen militärische Okkupation über die Paracel- und über einen Teil der Spratley-Inselgruppe, beide gehören seit Jahrhunderten zu Vietnam - auf der Straßen demonstrierten, von den derzeitigen Machthabern unterdrückt und sogar verfolgt wurden?

Das ist zu viel. Wir können es nicht mehr ertragen. Solcher staatliche Terrorismus muss beendet werden. Überall im Lande, vom Norden bis zum Süden, haben nun Bauern mit Stadtbürgern, Arbeiter mit Intellektuellen, junge Studenten mit alten und bereuten kommunistischen Kadern, enttäuschte Generäle mit Offizieren der derzeitigen Armee in Ruhestand, Priester, Pastore und buddhistische Mönche ihre Stimme erhoben, um gemeinsam Freiheit und Demokratie zu erkämpfen. Mehr als je zuvor hat sich das ganze Volk Vietnams dafür entschieden, sein heiliges Recht auf Selbstbestimmung aus den Händen der kommunistischen Machthaber zu entreißen und es ist absolut bereits, dafür jegliches Opfer zu akzeptieren. Ganz genau weiß es, dass Freiheit nur mit seinem eigenen Blut erkämpft werden kann. Es vergisst aber auch nicht, dass die oben erwählten Mächtigen dieser Welt dem vietnamesischen Volk gegenüber Verpflichtungen haben, indem sie dafür sorgen müssen, ihrem Engagement in der Pariser Vereinbarung: „die Einhaltung der fundamentalen Rechte der Bevölkerung Südvietnams auf Unabhängigkeit, Souveränität, Einheit und territoriale Unversehrtheit zu garantieren…“ Folge zu leisten. Dieses Engagement muss immer wieder erinnert werden, denn ein internationales Abkommen leidet von keinerlei Beschränkung durch Zeit und verliert keine Gültigkeit aufgrund des ununterbrochenen Widerstandes der Bevölkerung. Die Vietnamesen sowohl im Inland als auch im Ausland erheben unaufhörlich ihre Stimme gegen ihre kommunistischen Machthaber, sie prangen öffentlich und ständig über deren Verletzungen der Pariser Vereinbarung.

 Natürlich müssen alle internationalen Abkommen eingehalten werden. Wenn diese Basisregel des internationalen Rechtes nicht respektiert wird, würde unsere Welt unvermeidbar in Chaos und chronische Instabilität geraten; die Mächtigen würden dann die Herrschaft übernehmen, sowohl auf individueller als auch Landesebene.

Sehr verehrte Regierende der demokratischen Staaten und der Europäischen Union,

Sie sind diejenigen, die die Möglichkeit haben, das Schicksal der unterdrückten Völker durch ihre eigenen Machthaber zu ändern. Wir wollen Ihnen hiermit das Anliegen unserer 90 Mio. Mitbürger/innen vortragen, mit Bitte um Ihre Unterstützung für den Kampf für unser Selbstbestimmungsrecht, das uns von jeher beraubt worden ist.

Sehr verehrte Regierungen, die die Pariser Vereinbarung 1975 unterschrieben haben,

Als Mitunterzeichner des Abkommens werden Sie hiermit aufgefordert, Ihre Verpflichtungen nun auszuführen. Sie können somit Ihre vernachlässigte Verantwortung erfüllen und dem unglücklichen Volk Vietnams sein Glück zurückgeben. Weil Sie Ihrer Verpflichtungen nicht nachgekommen sind, konnten die Kommunisten aus dem Norden das Südvietnam einverleiben.

Sehr verehrte Hr. Generalsekretär der Vereinten Nation,

Ihr Vorgänger war Zeuge der feierlichen Unterzeichnung der Schlussakte vom 02. März 1975 der Pariser Vereinbarung. Wir appellieren Sie, die mitunterzeichnenden Staaten zu erinnern, damit sie ihrem Engagement „dem Volk Vietnams seine fundamentalen Nationalrechte und der Bevölkerung des Südvietnams ihr Selbstbestimmungsrecht herzustellen“ - wie es in der Pariser Vereinbarung steht - Folge leisten. 

Sehr verehrte Verfechter/innen der Freiheit und Demokratie in der Welt,

Wir appellieren Sie hiermit, Ihre Bemühungen zu intensivieren und unseren Kampf zu unterstützen, denn Ihre Ideale sind unsere. Nun ist es höchste Zeit für das vietnamesische Volk, seine vollständige Freiheit und seine heilige Selbstbestimmungsrecht zurück erkämpfen zu müssen, um sein Schicksal zu ändern und sein Vaterland vor einer neuen Invasionsgefahr  effektiver zu verteidigen. 

Paris, den 30. April 2014

Für die Bewegung für Selbstbestimmungsrecht des vietnamesischen Volkes

Der Präsident


Lê Trọng Quát, Rechtsanwalt
Ehm. Staatsminister der Republik Vietnam (RVN)
Ehm. Leiter des Innen- und Verteidigungsausschusses im Parlament, RVN
Ehm. Berater des Verfassungsschutzes, RVN